Hà Nội: 405 thanh tra cắm chốt tại các điểm thi tốt nghiệp THPT

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Ngày 27/5, Sở GD-ĐT Hà Nội tổ chức tập huấn Thanh tra thi tốt nghiệp THPT năm 2010. Bà Lê Thị Diệu Hoa, Phó phòng Thanh tra Sở cho biết, Sở cử 405 cán bộ đã được tập huấn kỹ về nghiệp vụ thanh tra thực hiện công tác thanh tra thi tốt nghiệp.

Bà Lê Thị Diệu Hoa cho biết: “405 cán bộ thanh tra này đều là cộng tác viên về công tác thanh tra thi tốt nghiệp trong 2 năm từ năm 2008 – 2010 mà Sở đã thành lập và được tập huấn kỹ về nghiệp vụ thanh tra thi. Kỳ thi tốt nghiệp 2010, Sở quy định 1 thanh tra quản lý 7 phòng thi và thành lập 20 đoàn thanh tra lưu động, 3 đoàn thanh tra đột suất do 3 phó giám đốc Sở phụ trách”.

Sở GD-ĐT sẽ thực hiện kiểm tra 100% Hội đồng thi và thanh tra ít nhất 1 lần mỗi điểm thi. Đặc biệt với các điểm “nóng”, thanh tra sẽ kiểm tra nhiều lần và yêu cầu thanh tra “cắm chốt” tại điểm thi đó phải liên tục báo cáo về Sở – bà Hoa khẳng định.

Để đảm bảo kỳ thi thực sự nghiêm túc, chính xác và tuyệt đối an toàn, các cơ sở giáo dục, ông Đoàn Hoài Vĩnh, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội lưu ý các thanh tra, kiểm tra hồ sơ dự thi của thí sinh và các hồ sơ có liên quan đền kỳ thi, xem xét điều kiện dự thi của thí sinh. Đặc biệt, nếu phát hiện cần kiến nghị xử lý kịp thời những trường hợp quản lý lỏng lẻo để giáo viên tự ý sửa chữa, bổ sung điểm, tẩy xóa, thay đổi học bạ để thay đổi kết quả học tập của thí sinh. Yêu cầu nhà trường bổ sung kịp thời hồ sơ thi nếu còn thiếu.

Được biết, kỳ thi tốt nghiệp 2010, Hà Nội có số thí sinh dự thi đông nhất nước là 81.219 với 190 Hội đồng coi thi tại 71 cụm thi.

Kỳ thi tốt nghiệp năm nay, Bộ GD-ĐT đã rút số lượng Thanh tra Bộ trên toàn quốc từ 9000 người xuống còn khoảng 600 người. Theo đó, Hà Nội số lượng thí sinh đông nhưng cũng chỉ có 10 Thanh tra Bộ xuống giám sát kỳ thi này.

Hà Nội: 405 thanh tra cắm chốt tại các điểm thi tốt nghiệp THPT

Tỷ lệ “chọi” vào 7 trường, khoa ĐH Quốc gia Hà Nội

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010Ngày 26/5, ĐH Quốc gia Hà Nội thông báo tỷ lệ hồ sơ đăng ký dự thi vào 7 trường, khoa thành viên. Ông Vũ Viết Bình, Phó trưởng phòng đào tạo của trường cho biết, hồ sơ đăng ký dự thi vào trường năm nay giảm khoảng 12%.

Tuy nhiên, ông Bình cho biết việc giảm hồ sơ này chính là giảm hồ sơ ảo chứ không giảm tính cạnh tranh vào trường. Những thí sinh đăng ký dự thi vào trường là những thí sinh đã khẳng định được năng lực của mình và tự tin đăng ký vì điểm chuẩn vào Trường ĐH Quôc gia Hà Nội hàng năm không phải là thấp. Năm nay trường xây dựng điểm chuẩn theo nhóm ngành.

Dưới đây là tỷ lệ “chọi” vào 7 trường, khoa thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2010:

Trường Hồ sơ đăng ký/Chỉ tiêu Tỷ lệ “chọi”
ĐH Công nghệ 3668/560 6,55
ĐH Khoa học Tự nhiên 8262/1310 6,30
ĐH Khoa học Xã hội Nhân văn 6600/1400 4,71
ĐH Ngoại ngữ 3788/1200 3,1
ĐH Kinh tế 3478/430 8,0
Khoa Luật 2071/300 6,9
ĐH Giáo dục 1194/300 3,98

Riêng Khoa Quốc tế, ngoài 5.500 chỉ tiêu đào tạo hệ chính quy của ĐHQG Hà Nội, Khoa Quốc tế có 500 chỉ tiêu cho các chương trình liên kết đào tạo với các trường ĐH uy tín của vương quốc Anh, Canada, Mỹ, Úc, Malaysia, Nga, Pháp và Trung Quốc.

Khoa tuyển sinh theo phương thức xét tuyển căn cứ vào kết quả học tập, rèn luyện ở bậc THPT và kết quả thi tuyển sinh ĐH các khối năm 2010. Thời gian nhận hồ sơ xét tuyển từ sau kì thi tuyển sinh ĐH đến hết ngày 30/9/2010. Có 30 chỉ tiêu học miễn phí chương trình đào tạo cử nhân ngành Kế toán chất lượng cao do ĐH Help (Malaysia) cấp bằng (trị giá tương đương 258 triệu đồng/5 năm/SV) cho những thí sinh có kết quả thi ĐH đạt 24 điểm trở lên; 6 suất học bổng cho mỗi ngành đào tạo còn lại, trong đó mức thấp nhất là cấp sinh hoạt phí 10 triệu đồng/1 năm/SV, mức cao nhất là miễn 100% học phí của ngành đào tạo và cấp sinh hoạt phí 10 triệu đồng/1 năm/SV (trị giá tương đương 95 triệu đồng/1 năm/SV).

Ngành Kinh doanh quốc tế được đào tạo theo chương trình liên kết quốc tế do ĐHQG Hà Nội cấp bằng. Ngoài ngành chính Kinh doanh quốc tế, SV được lựa chọn để hoàn thành thêm một trong các ngành phụ: Kế toán doanh nghiệp, Tài chính, Marketing.

Tỷ lệ “chọi” vào 7 trường, khoa ĐH Quốc gia Hà Nội

Điểm Chuẩn Đại học Thăng Long HN 2009 2010

STT Mã ngành Tên ngành Khối thi Điểm chuẩn Ghi chú
1 404 Quản lý bệnh viện A, D1, D3 15
2 403 Quản trị kinh doanh A, D1, D3 15
3 402 Tài chính Ngân hàng A, D1, D3 15
4 401 Kế toán A, D1, D3 15
5 706 – Tiếng Nhật D1,D3 15 m
6 704 Tiếng Trung (hệ số 2) D1, D3 15 m
7 704 – Tiếng Trung (hệ số 2) D4 20 m
8 701 – Tiếng Anh (hệ số 2) D1 20 m
9 502 – Công tác xã hội C 16
10 606 – Việt Nam học C 16
11 300 – Y tế công cộng B 16
12 502 – Công tác xã hội B 16
13 305 –  Điều dưỡng B 16
14 404 – Quản lý bệnh viện A 15 m
15 404 Quản lý bệnh viện D1, D3 15 m
16 403 Quản trị kinh doanh D1, D3 15 m
17 402 Tài chính – Ngân hàng D1, D3 15 m
18 403 – Quản trị kinh doanh A 15 m
19 402 – Tài chính – Ngân hàng A 15 m
20 401 Kế toán. D1, D3 15 m
21 401 – Kế toán A 15 m
22 103 – Mạng máy tính và viễn thông A 20 m
23 104 – Tin quản lý A 20 m
24 102 – Công nghệ thông tin A 20 m
25 101 – Toán – Tin ứng dụng A 20 m


Điểm Chuẩn Đại học Thăng Long HN 2009 2010

Điểm Chuẩn Học viện Báo chí Tuyên truyền 2009 2010

STT Mã ngành Tên ngành Khối thi Điểm chuẩn Ghi chú
1 Triết học (khối C) C 22.5
2 Triết học (khối D1) D1 15.5
3 Xã hội học D1 16


Điểm Chuẩn Học viện Báo chí Tuyên truyền 2009 2010

Thi TN THPT 2010: Làm khác đáp án vẫn có điểm

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng, du họcVề những vấn đề liên quan trực tiếp đến thí sinh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010, trao đổi với phóng viên, ông Trần Văn Nghĩa, phó cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Bộ GD-ĐT, cho biết:

Đề thi năm nay vẫn có nhiều câu hỏi có độ khó khác nhau, yêu cầu từ thấp đến cao: tái tạo kiến thức, vận dụng kiến thức, sáng tạo… Nhưng với mục đích của kỳ thi tốt nghiệp THPT, người ra đề sẽ cân nhắc để những thí sinh có trình độ trung bình nắm được kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu tối thiểu có thể vượt qua được kỳ thi này.

Về nguyên tắc, ban ra đề sẽ xây dựng barem chấm, hướng dẫn chấm thi chi tiết. Nội dung này cũng nằm trong diện bảo mật như đề thi. Tuy nhiên việc chấm thi sẽ bám sát các yêu cầu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và vận dụng theo hướng đảm bảo quyền lợi cho thí sinh.

* Nếu không có giải pháp để tránh tình trạng nơi chấm chặt, nơi chấm lỏng, việc chấm chéo sẽ gây băn khoăn, lo ngại cho nhiều người?

– Để tránh gây thiệt thòi cho thí sinh, barem chấm thi năm nay cũng sẽ chi tiết đến 0,25 điểm. Trong hướng dẫn chung, Bộ GD-ĐT chỉ đạo các hội đồng chấm thi phải phổ biến kỹ hướng dẫn chấm và chấm chung một số bài để thống nhất phương án chấm thi cho giám thị. Tinh thần chung là thí sinh làm được đến đâu cho điểm đến đó, không cứng nhắc chỉ cho điểm khi thí sinh làm được trọn vẹn câu hỏi. Nếu vận dụng đúng hướng dẫn chấm, sẽ không lo chuyện chấm chặt, chấm lỏng.

* Nhưng như nhiều ý kiến phản ảnh năm trước, nếu vận dụng hướng dẫn chấm mà không có sự linh hoạt sẽ bỏ sót công sức của thí sinh, nhất là ở những đề thi mở. Bộ có lưu ý gì trong việc chấm thi?

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng, du học

Ông Trần Văn Nghĩa

– Năm 2009, việc tranh cãi xảy ra ở những câu không phải mở. Nhìn vào kết quả chấm, nhất là kết quả chấm thẩm định, những câu mở lại rất ổn. Tuy hướng dẫn chấm chi tiết nhưng vẫn yêu cầu các hội đồng chấm thi phải vận dụng linh hoạt một cách thống nhất.

Để đảm bảo được sự thống nhất này, trong quy chế quy định: “Trước khi giám khảo chấm bài thi tự luận, tổ trưởng tổ chấm thi tổ chức cho các thành viên nghiên cứu hướng dẫn chấm thi và tiến hành chấm chung ít nhất 15 bài thi để giúp cho mọi giám khảo của tổ nhất quán thực hiện hướng dẫn chấm thi”. Và ngay trong hướng dẫn chấm chi tiết do ban đề thi xây dựng cũng sẽ nêu rõ khi nào có thể cho điểm, khi nào không thể cho điểm.

* Trên thực tế, có những thí sinh có cách làm khác với đáp án nhưng vẫn phù hợp, thậm chí nhanh hơn, thông minh hơn thì người chấm xử lý thế nào, có được thưởng điểm không?

– Kỳ thi tốt nghiệp THPT cũng khuyến khích khả năng sáng tạo của thí sinh (thể hiện ở đề thi, hướng dẫn chấm thi) nhưng mức độ vừa phải, khác với đòi hỏi cao ở kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ. Những thí sinh có cách làm khác với đáp án nhưng đúng vẫn phải cho điểm như barem. Còn việc có thưởng điểm hay không còn tùy thuộc yêu cầu cụ thể của từng câu, đề thi.

Không ép buộc thi môn thay thế

Xung quanh việc nhiều địa phương vận dụng hướng dẫn về môn thi thay thế, ông Trần Văn Nghĩa khẳng định:

– Theo quy chế, những thí sinh không theo học hết chương trình ngoại ngữ THPT hiện hành, hoặc ở các cơ sở khó khăn về điều kiện dạy học, trang thiết bị dạy học, thực hành không đáp ứng yêu cầu dạy học, giáo viên môn ngoại ngữ thiếu, chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo, năng lực dạy học yếu, việc thực hiện chương trình không liên tục, thí sinh là người dân tộc thiểu số khả năng tiếp thu ngoại ngữ yếu hoặc do chuyển trường phải đổi môn ngoại ngữ sẽ được giám đốc các sở GD-ĐT xem xét và cho phép thi môn thay thế.

* Vậy quy trình quyết định việc thi môn thay thế như thế nào? Căn cứ vào đề xuất của cơ sở giáo dục hay nguyện vọng của thí sinh?

– Những khó khăn thuộc về cơ sở giáo dục thường do cơ sở đề xuất lên. Những khó khăn thuộc về thí sinh do thí sinh đề đạt nguyện vọng với nhà trường, trường gửi đề xuất lên sở. Thường những nơi khó khăn do điều kiện dạy học, việc thi môn thay thế sẽ được xem xét với toàn bộ học sinh (nhưng vẫn phải căn cứ vào nguyện vọng của thí sinh). Những nơi có điều kiện dạy học đảm bảo, nhưng có những thí sinh đơn lẻ gặp khó khăn sẽ được xem xét theo từng trường hợp cụ thể.

* Trên thực tế có những trường hợp thí sinh được phép thi môn thay thế nhưng vẫn có nguyện vọng thi ngoại ngữ thì giải quyết thế nào?

– Bộ GD-ĐT chỉ quy định những trường hợp nào có thể được phép thi môn thay thế, còn trong trường hợp được phép nhưng thí sinh không muốn thi môn thay thế vẫn phải tôn trọng nguyện vọng của thí sinh. Bộ không quy định bắt buộc về việc này. Những cơ sở ép buộc thí sinh phải lựa chọn môn thi thay thế là sai quy định.

Ông Trần Văn Nghĩa

– Năm 2009, việc tranh cãi xảy ra ở những câu không phải mở. Nhìn vào kết quả chấm, nhất là kết quả chấm thẩm định, những câu mở lại rất ổn. Tuy hướng dẫn chấm chi tiết nhưng vẫn yêu cầu các hội đồng chấm thi phải vận dụng linh hoạt một cách thống nhất.

Để đảm bảo được sự thống nhất này, trong quy chế quy định: “Trước khi giám khảo chấm bài thi tự luận, tổ trưởng tổ chấm thi tổ chức cho các thành viên nghiên cứu hướng dẫn chấm thi và tiến hành chấm chung ít nhất 15 bài thi để giúp cho mọi giám khảo của tổ nhất quán thực hiện hướng dẫn chấm thi”. Và ngay trong hướng dẫn chấm chi tiết do ban đề thi xây dựng cũng sẽ nêu rõ khi nào có thể cho điểm, khi nào không thể cho điểm.

* Trên thực tế, có những thí sinh có cách làm khác với đáp án nhưng vẫn phù hợp, thậm chí nhanh hơn, thông minh hơn thì người chấm xử lý thế nào, có được thưởng điểm không?

– Kỳ thi tốt nghiệp THPT cũng khuyến khích khả năng sáng tạo của thí sinh (thể hiện ở đề thi, hướng dẫn chấm thi) nhưng mức độ vừa phải, khác với đòi hỏi cao ở kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ. Những thí sinh có cách làm khác với đáp án nhưng đúng vẫn phải cho điểm như barem. Còn việc có thưởng điểm hay không còn tùy thuộc yêu cầu cụ thể của từng câu, đề thi.

Không ép buộc thi môn thay thế

Xung quanh việc nhiều địa phương vận dụng hướng dẫn về môn thi thay thế, ông Trần Văn Nghĩa khẳng định:

– Theo quy chế, những thí sinh không theo học hết chương trình ngoại ngữ THPT hiện hành, hoặc ở các cơ sở khó khăn về điều kiện dạy học, trang thiết bị dạy học, thực hành không đáp ứng yêu cầu dạy học, giáo viên môn ngoại ngữ thiếu, chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo, năng lực dạy học yếu, việc thực hiện chương trình không liên tục, thí sinh là người dân tộc thiểu số khả năng tiếp thu ngoại ngữ yếu hoặc do chuyển trường phải đổi môn ngoại ngữ sẽ được giám đốc các sở GD-ĐT xem xét và cho phép thi môn thay thế.

* Vậy quy trình quyết định việc thi môn thay thế như thế nào? Căn cứ vào đề xuất của cơ sở giáo dục hay nguyện vọng của thí sinh?

– Những khó khăn thuộc về cơ sở giáo dục thường do cơ sở đề xuất lên. Những khó khăn thuộc về thí sinh do thí sinh đề đạt nguyện vọng với nhà trường, trường gửi đề xuất lên sở. Thường những nơi khó khăn do điều kiện dạy học, việc thi môn thay thế sẽ được xem xét với toàn bộ học sinh (nhưng vẫn phải căn cứ vào nguyện vọng của thí sinh). Những nơi có điều kiện dạy học đảm bảo, nhưng có những thí sinh đơn lẻ gặp khó khăn sẽ được xem xét theo từng trường hợp cụ thể.

* Trên thực tế có những trường hợp thí sinh được phép thi môn thay thế nhưng vẫn có nguyện vọng thi ngoại ngữ thì giải quyết thế nào?

– Bộ GD-ĐT chỉ quy định những trường hợp nào có thể được phép thi môn thay thế, còn trong trường hợp được phép nhưng thí sinh không muốn thi môn thay thế vẫn phải tôn trọng nguyện vọng của thí sinh. Bộ không quy định bắt buộc về việc này. Những cơ sở ép buộc thí sinh phải lựa chọn môn thi thay thế là sai quy định.

ĐH Kinh tế, Sư phạm có tỷ lệ “chọi” cao nhất là 1/8

Ngày 13/5, ĐH Đà Nẵng cho biết có 51.076 hồ sơ ĐKDT vào các trường ĐH, CĐ trực thuộc ĐH Đà Nẵng trong kỳ thi tuyển sinh 2010. Xét theo lượng hồ sơ ĐKDT, ĐH Kinh tế Đà Nẵng và ĐH Sư phạm Đà Nẵng dự kiến có tỷ lệ “chọi” cao nhất là 1/8.

đáp án đề thi đại học khối a năm 2010

Cụ thể, trường ĐH Kinh tế nhận được 14.120 hồ sơ ĐKDT, trong khi chỉ tiêu là 1.840. ĐH Sư phạm Đà Nẵng có gần 13.000 hồ sơ ĐKDT (trong đó, khối A có 3.123 hồ sơ, khối B: 2.967 hồ sơ, khối C: 3.354 hồ sơ, khối D: 2.259 hồ sơ, khối M: 1.015 hồ sơ, và khối T: 263 hồ sơ), chỉ tiêu là 1.650.

Trường ĐH Bách khoa có 17.392 hồ sơ ĐKDT so với chỉ tiêu 3.000, như vậy tỷ lệ “chọi” là 1/6.

ĐH Ngoại ngữ Đà Nẵng có 5.743 hồ sơ ĐKDT, trong đó, hầu hết thí sinh ĐKDT vào khối D1 với 5.683 hồ sơ. So với chỉ tiêu 1.235, dự kiến tỷ lệ chọi vào trường năm nay là 1/5.

Phân hiệu ĐH Đà Nẵng tại Kon Tum có 840 hồ sơ ĐKDT so với chỉ tiêu 350, như vậy tỷ lệ “chọi” là 1/2.

Đừng quá lo tỉ lệ “chọi” 2009 2010

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học  cao đẳng 2010
– Tỉ lệ “chọi” nhiều ngành cao ngất ngưởng, có ngành lên đến 1 “chọi” 54. Điều này có thật sự đáng lo khi cạnh tranh một suất vào ĐH? Thí sinh có cần băn khoăn khi lỡ đăng ký dự thi vào ngành có tỉ lệ “chọi” cao hay vui mừng khi vào ngành có tỉ lệ “chọi” thấp?

Trưởng phòng đào tạo một trường ĐH có đông thí sinh đăng ký dự thi năm nay cho biết không muốn công bố tỉ lệ “chọi” theo ngành bởi có những ngành tỉ lệ “chọi” rất cao, có thể khiến thí sinh hoang mang trước một kỳ thi quan trọng. Bởi tỉ lệ “chọi” cao chưa hẳn điểm chuẩn sẽ cao và ngược lại.

Điều này dễ nhận thấy nhất trong điểm chuẩn năm 2009 của Trường ĐH Y dược TP.HCM. Ngành bác sĩ đa khoa có tỉ lệ “chọi” thấp nhì trường, chỉ 1/10,4 nhưng điểm chuẩn lại lên tới 25, cao nhì trường, chỉ sau ngành dược (1/19,5) cao nhất trường với 25,5 điểm. Trong khi những ngành như vật lý trị liệu (1/19,5), gây mê hồi sức (1/23), xét nghiệm (1/36) điểm chuẩn chỉ dao động từ 19,5 – 21,5. Ngành có tỉ lệ “chọi” cao nhất trường năm 2009 là điều dưỡng (1/65) nhưng điểm chuẩn chỉ ở mức 19,5.

Chỉ để tham khảo

Ở một số trường như ĐH Cần Thơ, ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM), ĐH Sư phạm TP.HCM… cũng tương tự. Năm 2009, ngành sư phạm giáo dục tiểu học có tỉ lệ “chọi” 1/23, cao nhất Trường ĐH Cần Thơ nhưng điểm chuẩn NV1 chỉ 13,5, cao hơn điểm sàn 0,5 điểm.

Tương tự, các ngành công nghệ thông tin có tỉ lệ “chọi” 1/13 nhưng điểm chuẩn chỉ 15,5, công nghệ thực phẩm 1/30 và điểm chuẩn 16, khoa học môi trường 1/27 – điểm chuẩn 16, quản trị kinh doanh 1/22 – điểm chuẩn 16.

Trong khi đó nhiều ngành có tỉ lệ “chọi” thấp như tài chính ngân hàng chỉ 1 “chọi” 4,2 nhưng điểm chuẩn lên tới 18.

Cạnh tranh chất lượng

Một thực tế là những ngành công nghệ truyền thống ở các trường ĐH Bách khoa, Khoa học tự nhiên, Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM), Sư phạm kỹ thuật TP.HCM… như công nghệ thông tin, môi trường, công nghệ sinh học, xây dựng, nhóm ngành tài chính ngân hàng, y dược dù tỉ lệ “chọi” có thấp thì điểm chuẩn cũng luôn đứng đầu trường bởi những thí sinh “sừng sỏ” mới đăng ký vào đây. Sự cạnh tranh về số lượng tuy ít nhưng cạnh tranh về chất lượng, điểm số lại rất gay gắt.

Thạc sĩ Lâm Tường Thoại – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM) – chia sẻ: tỉ lệ “chọi” không nói lên điều gì đến điểm đầu vào cả.

Theo thạc sĩ Thoại, kinh nghiệm nhiều năm làm tuyển sinh cho thấy hai ngành tài chính ngân hàng và kinh tế đối ngoại của trường luôn có điểm chuẩn cao nhất dù tỉ lệ “chọi” mỗi năm có dao động lên xuống so với các ngành khác.

Thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Cần Thơ – cho biết năm nay có sự dịch chuyển mạnh hồ sơ đăng ký dự thi sang hai ngành kinh tế môi trường và kinh tế thủy sản do năm rồi tỉ lệ “chọi” hai ngành này thấp. Tuy nhiên, dự kiến điểm chuẩn sẽ cao hơn chút đỉnh chứ không quá cao bởi thí sinh thi vào những ngành này cũng đã tự lượng sức học của mình.

Thí sinh không nên quá quan tâm đến tỉ lệ “chọi”, cái cần tham khảo là điểm chuẩn những năm trước để từ đó phấn đấu học tập đạt ngang bằng hoặc cao hơn mức điểm đó.

Những ngành nhiều cơ hội

Tuy nhiên, cũng có không ít ngành tỉ lệ “chọi” thấp, điểm chuẩn cũng thấp theo. Đây là những ngành vốn có “truyền thống” ít thí sinh trong nhiều năm liền và điểm chuẩn cũng vì thế chỉ dao động quanh điểm sàn.

Thống kê những mùa tuyển sinh gần đây cho thấy những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm, khoa học cơ bản, nhiều ngành nhóm kỹ thuật có mức điểm chuẩn chỉ bằng hoặc cao hơn điểm sàn 0,5-2 điểm. Năm 2009, các ngành khoa học cơ bản tại ĐHQG TP.HCM như khoa học vật liệu, hải dương học – khí tượng – thủy văn, địa chất (ĐH Khoa học tự nhiên) hay trắc địa, công nghệ vật liệu, vật lý kỹ thuật (ĐH Bách khoa) có điểm chuẩn chỉ 13-14 điểm.

Năm nay, chỉ một số ít ngành có tỉ lệ “chọi” tăng nhẹ, trong khi hầu hết đều giảm nên điểm chuẩn vào những ngành này cũng sẽ không có nhiều thay đổi.

Trong khi đó cũng như ở nhiều trường khác, những ngành công nghệ “hot” như môi trường, công nghệ sinh học tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên có tỉ lệ “chọi” tăng cao ngất ngưởng nên sẽ có nhiều biến động về điểm.

Trong những năm gần đây, hầu hết các trường đều khá vất vả tuyển sinh những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm. Năm nay, trong bối cảnh hồ sơ giảm chung, lượng hồ sơ vào nhóm ngành này càng ít hơn. Ngoại trừ một số ngành nông lâm tại Trường ĐH Cần Thơ có tỉ lệ “chọi” tăng, nhưng thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An dự báo điểm chuẩn sẽ không có nhiều thay đổi.

Ở nhóm ngành kinh tế, điểm chuẩn các ngành hệ thống thông tin quản lý và kinh tế học luôn thấp nhất trong các trường. Trong khi đó ngành quản trị luật (ĐH Luật TP.HCM) và luật dân sự (ĐH Kinh tế – luật ĐHQG TP.HCM) có tỉ lệ “chọi” chỉ 1/2.

Đừng quá lo tỉ lệ “chọi”

Thêm tỷ lệ “chọi” trường Đại học Huế

Đáp Án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010Ngày 14/05, Trường Đại học Huế công bố tỷ lệ “chọi” của trường, khoa thành viên trực thuộc.

ĐH Huế:

– Trường ĐH Sư phạm: SP Tin học: 1/3,3 (60 CT/366 HS); SP Vật lý: 1/5,46 (130 CT/710 HS); SP Kỹ thuật công nghiệp: 1/2,16 (55 CT/119 HS); SP Công nghệ thiết bị trường học: 1/2,85 (55 CT/157 HS).

SP Hóa học: 1/4,07 (110 CT/448 HS); SP Sinh học: 1/8,62 (110 CT/948 HS); SP Kỹ thuật nông lâm: 1/3,32 (50 CT/166 HS); Tâm lý giáo dục: 1/1,94 (50 CT/97 HS); Giáo dục chính trị: 1/2,91 (110 CT/320 HS); Giáo dục chính trị – Giáo dục quốc phòng: 1/1,53 (60 CT/92 HS); SP Lịch sử: 1/3,86 (100 CT/386 HS); SP Ngữ văn: 1/5,95 (150 CT/892 HS); SP Địa lý: 1/6,61 (100 CT/661 HS); Giáo dục tiểu học: 1/28,83 (100 CT/2.883 HS); Giáo dục mầm non: 1/5,63 (100 CT/563 HS).

– Trường ĐH Khoa học: Toán học: 1/1,80 (40 CT/72 HS); Tin học: 1/3,76 (200 CT/752 HS); Vật lý: 1/2,23 (60 CT/134 HS); Kiến trúc công trình: 1/3,06 (100 CT/306 HS); Điện tử – Viễn thông: 1/10,56 (70 CT/739 HS); Toán – Tin ứng dụng: 1/1,20 (40 CT/48 HS); Hóa học: 1/2,97 (60 CT/178 HS); Địa chất: 1/2,90 (50 CT/145 HS); Địa chất công trình và địa chất thủy văn: 1/2,10 (50 CT/105 HS); Sinh học: 1/8,83 (60 CT/530 HS); Địa lý: 1/4,64 (50 CT/232 HS); Khoa học môi trường: 1/18,48 (60 CT/1.109 HS); Công nghệ sinh học: 1/13,80 (60 CT/828 HS); Văn học: 1/2,89 (120 CT /347 HS); Lịch sử: 1/2,11 (120 CT/253 HS); Triết học: 1/1,12 (60CT/67 HS); Hán – Nôm: 1/0,70 (40 CT/28 HS); Báo chí: 1/5,72 (100 CT/572 HS); Công tác xã hội: 1/6,33 (70 CT/443 HS); Xã hội học: 1/1,97 (70 CT/138 HS); Ngôn ngữ: 1/0,28 (50 CT/14 HS); Đông phương học: 1/1,20 (70 CT/84 HS).

– Trường Đại học Y – Dược: Bác sĩ đa khoa: 1/10,52 (450 CT/4.508 HS); Bác sĩ Răng-Hàm-Mặt: 1/12,92 (50 CT/646 HS); Dược sĩ: 1/6,68 (100 CT 668 HS); Cử nhân Điều dưỡng: 1/32,78 (50 CT/1.639 HS); Cử nhân Kỹ thuật Y học: 1/18,54 (50 CT/972 HS); Cử nhân Y tế cộng đồng: 1/15,23 (60 CT /914 HS); Bác sĩ Y học dự phòng: 1/5,88 (100 CT/588 HS); Bác sĩ Y học cổ truyền: 1/12,50 (60 CT/750 HS).

– Trường Đại học Nông Lâm: Công nghiệp và công trình nông thôn: 1/2,18 (50 CT/109 HS); Cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm: 1/1,02 (50 CT/51 HS); Công nghệ thực phẩm: 1/10,48 (100 CT/1.048 HS); Khoa học cây trồng: 1/6,06 (100 CT/606 HS); Bảo vệ thực vật: 1/4,46 (50 CT/223 HS); Bảo quản chế biến nông sản: 1/11,88 (50 CT/594 HS); Khoa học nghề vườn: 1/1,48 (40 CT/59 HS); Lâm nghiệp: 1/13,84 (50 CT/692 HS); Chăn nuôi – Thú y: 1/7,90 (100 CT/790 HS); Thú y: 1/6,68 (50 CT/334 HS); Nuôi trồng thủy sản: 1/11,05 (150 CT/1.657 HS); Nông học: 1/2,10 (40 CT/84 HS); Khuyến nông và phát triển nông thôn: 1/9,12 (50 CT/456 HS); Quản lý tài nguyên rừng và môi trường: 1/25,64 (100 CT/2.564 HS); Chế biến lâm sản: 1/0,98 (40 CT/39 HS); Khoa học đất: 1/2,27 (30 CT/68 HS); Quản lý môi trường và nguồn lợi thủy sản: 1/14,50 (50 CT/725 HS); Quản lý đất đai: 1/5,85 (180 CT/1.053 HS); Phát triển nông thôn: 1/1,04 (50 CT/52 HS).

– Trường Đại học Kinh tế: Kinh tế: 1/6,86 (300 CT/2.059 HS); Quản trị kinh doanh: 1/13,05 (310 CT/4.044 HS); Kinh tế chính trị: 1/7,24 (50 CT/362 HS); Kế toán: 1/14,30 (240 CT/3.431 HS); Tài chính ngân hàng: 1/10,46 (80 CT/837 HS); Hệ thống thông tin kinh tế: 1/5,10 (140 CT/714 HS).

– Trường Đại học Nghệ thuật: Hội họa: 1/1,70 (40 CT/68 HS); Điêu khắc: 1/1,50 (10 CT/15 HS); SP Mỹ thuật: 1/3,73 (40 CT/149 HS); Mỹ thuật ứng dụng: 1/5,12 (50 CT/256 HS); Đồ họa: 1/1,57 (30 CT/47 HS).

– Trường ĐH Ngoại ngữ: SP Tiếng Anh: 1/3,47 (240 CT/833 HS); Việt Nam học: 1/2,50 (30 CT/75 HS); Quốc tế học: 1/1,37 (30 CT/41 HS); Tiếng Anh: 1/3,61 (240 CT/827 HS); Tiếng Nga: 1/0,55 (20 CT/11 HS); Tiếng Pháp: 1/1,43 (40 CT/57 HS); Tiếng Trung: 1/1,65 (80 CT/132 HS); Tiếng Nhật: 1/1,98 (160 CT/316 HS); Tiếng Hàn: 1/2,18 (40 CT/87 HS).

– Khoa Giáo dục thể chất: SP Thể chất – Giáo dục quốc phòng: 1/3,41 (100 CT/341 HS); SP Giáo dục thể chất: 1/4,22 (120 CT/506 HS).

– Khoa Du lịch: Du lịch học: 1/7,90 (120 CT/948 HS); Quản trị kinh doanh: 1/3,40 (200 CT/679 HS).

– Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị: Công nghệ kỹ thuật môi trường: 1/1,12 (60 CT/67 HS); Xây dựng dân dụng và công nghiệp: 1/1,30 (60 CT/78 HS); Kỹ thuật trắc địa – bản đồ: 1/0,17 (60 CT/10 HS).

Thêm tỷ lệ “chọi” trường Đại học Huế

ĐH Ngoại thương có tỷ lệ chọi thấp bất ngờ

đáp án đề thi đại học môn toán khối a năm 2010Với chỉ tiêu vào trường là 3.000 sinh viên, nhưng lại chỉ có 8.400 hồ sơ đăng ký dự thi, vậy nên tỷ lệ chọi của “đầu vào” Đại học Ngoại thương năm nay chỉ là 1/2,8 – thấp một cách bất ngờ.

Thông tin từ các trường đại học khu vực phía Bắc cho thấy, năm nay tỷ lệ hồ sơ đăng ký dự thi vào nhiều trường giảm dẫn đến tỷ lệ “chọi” của nhiều trường giảm theo. Tuy nhiên, với một số trường ở “tốp giữa”, tỷ lệ “chọi” có phần cao hơn năm trước.

Theo quy luật tuyển sinh, ở các trường “top” trên, tỷ lệ “chọi” vào các trường này rất thấp nhưng không phải lúc nào tỷ lệ “chọi” thấp cũng dễ trúng tuyển. Các chuyên gia tuyển sinh cảnh báo, dự thi vào những trường này, thí sinh cần có học lực tốt, nếu không sẽ rơi vào tình trạng có số điểm thi cao mà vẫn trượt.

Hiện nay, xu thế chọn trường của các thí sinh là thi theo điểm chuẩn. Nhưng điều này sẽ không đúng nếu số lượng thí sinh dự thi vào trường đông dẫn đến có thể điểm tuyển của trường sẽ vượt lên cao. Bởi vậy, thí sinh nên so sánh điểm trúng tuyển giữa các trường và giữa một ngành có nhiều trường đào tạo làm căn cứ chọn ngành, trường thi cho phù hợp.

Hiện nay đã có 26 trường ĐH khu vực phía Bắc công bố tỷ lệ chọi.

ĐH Kinh tế Quốc dân nhận được 20.500 hồ sơ ĐKDT, chỉ tiêu của trường năm nay là 4.015. Tỷ lệ “chọi” vào trường năm nay sẽ là 1/5.

ĐH Xây dựng, năm nay nhận được 18.500 hồ sơ/2.815 chỉ tiêu. Tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/6,6.

ĐH Bách khoa Hà Nội là có 12.800 hồ sơ so với tổng chỉ tiêu 5.600, tỷ lệ “chọi” vào ĐH Bách khoa Hà Nội chỉ có 1/2,2.

Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông khu vực phía Bắc năm nay 5.500 hồ sơ/1.850 chỉ tiêu, như vậy tỷ lệ “chọi” chỉ khoảng 1/2,9.

ĐH Dược nhận được có 2.500 hồ sơ/ 550 chỉ tiêu, tỷ lệ “chọi” là 1/4,5. Trong 550 chỉ tiêu vào trường thì trường dành 100 chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ sử dụng.

ĐH Y Hà Nội nhận được 15.931 hồ sơ ĐKDT trên tổng số 1.000 chỉ tiêu. Tỷ lệ “chọi” vào khoảng 1/16.

ĐH Ngoại thương, số lượng hồ sơ ĐKDT khoảng 8.400, trong khi đó chỉ tiêu vào trường là 3.000. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/2,8.

Học viện Tài chính, năm nay nhận được khoảng 16.000 hồ sơ ĐKDT, trong khi đó chỉ tiêu được giao là 3.080. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/5,4.

ĐH Thương mại năm nay nhận được 39.000 hồ sơ ĐKDT trên tổng số 3.400 chỉ tiêu. Theo đó, tỷ lệ “chọi” ở vào trường khoảng 1/11.

Học viện Ngân hàng có 18.000 hồ sơ/2.300 chỉ tiêu. Như vậy, tỉ lệ chọi khối A vào trường là 1/7,8; khối D là 1/7,5.

Học viện Ngoại giao có khoảng gần 3.000 hồ sơ ĐKDT, chỉ tiêu của trường khoảng 450. Tỷ lệ “chọi” là 1/7.

Đại học Giao thông Vận tải có 18.000 hồ sơ/4.000 chỉ tiêu. Như vậy tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là là 1/4,5.

ĐH Mỏ – Địa chất năm nay nhận được 16.000 hồ sơ, tỉ lệ “chọi” vào trường này ở bậc ĐH khoảng 1/4,5.

ĐH Thủy lợi có tổng số 15.500 hồ sơ ĐKDT với chỉ tiêu 2.600, tỷ lệ “chọi” của trường này là 1/6.

ĐH Nông nghiệp I Hà Nội, năm nay trường nhận được 43.138 hồ sơ ĐKDT trên tổng số 4.500 chỉ tiêu. Tỷ lệ “chọi” của trường năm nay sẽ là 1/9,5.

ĐH Lâm nghiệp nhận được trên 13.000 hồ sơ ĐKDT trên chỉ tiêu tuyển sinh là 1.600. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường là 1/8,1.

ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội có khoảng 18.965 hồ sơ ĐKDT trên tổng số 3.000 chỉ tiêu. Tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/6,3.

ĐH Luật có trên 11.570 hồ sơ trên tổng số chỉ tiêu 1.800 vào trường. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường năm nay khoảng 1/6,9.

Học viện Báo chí Tuyên truyền nhận được có 8.500 hồ sơ ĐKDT, chỉ tiêu của trường 1.450. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/5,6.

Đại học Văn hóa năm nay nhận được hơn 5.000 hồ sơ ĐKDT, chỉ tiêu tuyển là 1.100. Như vậy tỷ lệ “chọi” là 1/4,5.

ĐH Sư phạm Hà Nội nhận được khoảng gần 17.000 hồ sơ ĐKDT, trong khi đó chỉ tiêu vào trường là 2.700. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường năm nay vào khoảng 1/62. Trong số 2.700 chỉ tiêu, trường dành 325 chỉ tiêu cho đào tạo theo địa chỉ.

ĐH Hà Nội có 9.663 hồ sơ đăng ký trên tổng số 1.700 chỉ tiêu. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/5,6.

Viện ĐH Mở Hà Nội có 25.000 hồ sơ ĐKDT trên tổng chỉ tiêu vào trường là 3.000. Tỉ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/8,3.

ĐH Thái Nguyên năm nay nhận được 64.000 hồ sơ/9.700 chỉ tiêu. Như vậy, tỷ lệ “chọi” của trường sẽ là 1/6.6.

ĐH Hàng hải nhận được 15.000 hồ sơ/3.000 chỉ tiêu, tỉ lệ chọi là 1/5.

ĐH Điện lực có 11.500 hồ sơ/1.950 chỉ tiêu, tỉ lệ chọi: 1/5,8.

Học viện Hành chính nhận được trên 4.000 hồ sơ/1.000 chỉ tiêu, tỉ lệ chọi rơi vào 1/4.

Tỷ lệ “chọi” các trường ĐH-CĐ năm 2010 (tiếp theo)

* ĐH Huế: – Trường ĐH Sư phạm: SP Tin học: 1/3,3 (60 CT/366 HS); SP Vật lý: 1/5,46 (130 CT/710 HS); SP Kỹ thuật công nghiệp: 1/2,16 (55 CT/119 HS); SP Công nghệ thiết bị trường học: 1/2,85 (55 CT/157 HS).

SP Hóa học: 1/4,07 (110 CT/448 HS); SP Sinh học: 1/8,62 (110 CT/948 HS); SP Kỹ thuật nông lâm: 1/3,32 (50 CT/166 HS); Tâm lý giáo dục: 1/1,94 (50 CT/97 HS); Giáo dục chính trị: 1/2,91 (110 CT/320 HS); Giáo dục chính trị – Giáo dục quốc phòng: 1/1,53 (60 CT/92 HS); SP Lịch sử: 1/3,86 (100 CT/386 HS); SP Ngữ văn: 1/5,95 (150 CT/892 HS); SP Địa lý: 1/6,61 (100 CT/661 HS); Giáo dục tiểu học: 1/28,83 (100 CT/2.883 HS); Giáo dục mầm non: 1/5,63 (100 CT/563 HS).

– Trường ĐH Khoa học: Toán học: 1/1,80 (40 CT/72 HS); Tin học: 1/3,76 (200 CT/752 HS); Vật lý: 1/2,23 (60 CT/134 HS); Kiến trúc công trình: 1/3,06 (100 CT/306 HS); Điện tử – Viễn thông: 1/10,56 (70 CT/739 HS); Toán – Tin ứng dụng: 1/1,20 (40 CT/48 HS); Hóa học: 1/2,97 (60 CT/178 HS); Địa chất: 1/2,90 (50 CT/145 HS); Địa chất công trình và địa chất thủy văn: 1/2,10 (50 CT/105 HS); Sinh học: 1/8,83 (60 CT/530 HS); Địa lý: 1/4,64 (50 CT/232 HS); Khoa học môi trường: 1/18,48 (60 CT/1.109 HS); Công nghệ sinh học: 1/13,80 (60 CT/828 HS); Văn học: 1/2,89 (120 CT /347 HS); Lịch sử: 1/2,11 (120 CT/253 HS); Triết học: 1/1,12 (60CT/67 HS); Hán – Nôm: 1/0,70 (40 CT/28 HS); Báo chí: 1/5,72 (100 CT/572 HS); Công tác xã hội: 1/6,33 (70 CT/443 HS); Xã hội học: 1/1,97 (70 CT/138 HS); Ngôn ngữ: 1/0,28 (50 CT/14 HS); Đông phương học: 1/1,20 (70 CT/84 HS).

– Trường Đại học Y – Dược: Bác sĩ đa khoa: 1/10,52 (450 CT/4.508 HS); Bác sĩ Răng-Hàm-Mặt: 1/12,92 (50 CT/646 HS); Dược sĩ: 1/6,68 (100 CT 668 HS); Cử nhân Điều dưỡng: 1/32,78 (50 CT/1.639 HS); Cử nhân Kỹ thuật Y học: 1/18,54 (50 CT/972 HS); Cử nhân Y tế cộng đồng: 1/15,23 (60 CT /914 HS); Bác sĩ Y học dự phòng: 1/5,88 (100 CT/588 HS); Bác sĩ Y học cổ truyền: 1/12,50 (60 CT/750 HS).

– Trường Đại học Nông Lâm: Công nghiệp và công trình nông thôn: 1/2,18 (50 CT/109 HS); Cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm: 1/1,02 (50 CT/51 HS); Công nghệ thực phẩm: 1/10,48 (100 CT/1.048 HS); Khoa học cây trồng: 1/6,06 (100 CT/606 HS); Bảo vệ thực vật: 1/4,46 (50 CT/223 HS); Bảo quản chế biến nông sản: 1/11,88 (50 CT/594 HS); Khoa học nghề vườn: 1/1,48 (40 CT/59 HS); Lâm nghiệp: 1/13,84 (50 CT/692 HS); Chăn nuôi – Thú y: 1/7,90 (100 CT/790 HS); Thú y: 1/6,68 (50 CT/334 HS); Nuôi trồng thủy sản: 1/11,05 (150 CT/1.657 HS); Nông học: 1/2,10 (40 CT/84 HS); Khuyến nông và phát triển nông thôn: 1/9,12 (50 CT/456 HS); Quản lý tài nguyên rừng và môi trường: 1/25,64 (100 CT/2.564 HS); Chế biến lâm sản: 1/0,98 (40 CT/39 HS); Khoa học đất: 1/2,27 (30 CT/68 HS); Quản lý môi trường và nguồn lợi thủy sản: 1/14,50 (50 CT/725 HS); Quản lý đất đai: 1/5,85 (180 CT/1.053 HS); Phát triển nông thôn: 1/1,04 (50 CT/52 HS).

– Trường Đại học Kinh tế: Kinh tế: 1/6,86 (300 CT/2.059 HS); Quản trị kinh doanh: 1/13,05 (310 CT/4.044 HS); Kinh tế chính trị: 1/7,24 (50 CT/362 HS); Kế toán: 1/14,30 (240 CT/3.431 HS); Tài chính ngân hàng: 1/10,46 (80 CT/837 HS); Hệ thống thông tin kinh tế: 1/5,10 (140 CT/714 HS).

– Trường Đại học Nghệ thuật: Hội họa: 1/1,70 (40 CT/68 HS); Điêu khắc: 1/1,50 (10 CT/15 HS); SP Mỹ thuật: 1/3,73 (40 CT/149 HS); Mỹ thuật ứng dụng: 1/5,12 (50 CT/256 HS); Đồ họa: 1/1,57 (30 CT/47 HS).

– Trường ĐH Ngoại ngữ: SP Tiếng Anh: 1/3,47 (240 CT/833 HS); Việt Nam học: 1/2,50 (30 CT/75 HS); Quốc tế học: 1/1,37 (30 CT/41 HS); Tiếng Anh: 1/3,61 (240 CT/827 HS); Tiếng Nga: 1/0,55 (20 CT/11 HS); Tiếng Pháp: 1/1,43 (40 CT/57 HS); Tiếng Trung: 1/1,65 (80 CT/132 HS); Tiếng Nhật: 1/1,98 (160 CT/316 HS); Tiếng Hàn: 1/2,18 (40 CT/87 HS).

– Khoa Giáo dục thể chất: SP Thể chất – Giáo dục quốc phòng: 1/3,41 (100 CT/341 HS); SP Giáo dục thể chất: 1/4,22 (120 CT/506 HS).

– Khoa Du lịch: Du lịch học: 1/7,90 (120 CT/948 HS); Quản trị kinh doanh: 1/3,40 (200 CT/679 HS).

– Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị: Công nghệ kỹ thuật môi trường: 1/1,12 (60 CT/67 HS); Xây dựng dân dụng và công nghiệp: 1/1,30 (60 CT/78 HS); Kỹ thuật trắc địa – bản đồ: 1/0,17 (60 CT/10 HS).

– Khoa Luật: ngành Luật: 1/4,41 (350 CT/1.542 HS).

đáp án đề thi môn toán khối a năm 2010