Điểm Chuẩn Học viện Quản lý Giáo dục 2009 2010

STT Mã ngành Tên ngành Khối thi Điểm chuẩn Ghi chú
1 603 Tâm lý giáo dục (D) D1 13.5
2 603 Tâm lý giáo dục (C) C 14.5
3 102 Tin học ứng dụng A 13
4 601 Quản lý giáo dục (D1) D1 15
5 601 Quản lý giáo dục (C) C 18
6 601 Quản lý giáo dục (A) A 15



Điểm ChuẩnHọc viện Quản lý Giáo dục 2009 2010

Học “lò” – bao nỗi đa đoan

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng, tuyển sinh du học 2010Chỉ gần hai tháng nữa học sinh lớp 12 sẽ bước vào kì thi đại học. Đây là thời điểm các lò, lớp dạy thêm tăng cường hoạt động.

Nhiều năm qua, báo chí vẫn phản đối chuyện học thêm. Tuy nhiên, cứ đến dịp ôn thi, các lò, lớp ngoài trường vẫn hoạt động tưng bừng. Điều này có thể tạm thời lí giải: cầu sinh ra cung. Khi mà các sĩ tử vẫn tha thiết với chuyện học thêm, và phụ huynh vẫn chăm bẵm cho việc học thêm của con em mình thì các lò luyện thi còn được dịp nở rộ.

Những bạn tìm đến lò nếu không vì sức học đuối, thì cũng là những bạn muốn thi trường cao nhưng không tự tin vào lực học của mình. Tuy nhiên, cũng có không ít thủ khoa, á khoa các trường đại học thổ lộ về việc học lò của mình. Hoài, sinh viên Học viện Tài chính đã tâm sự: “Bản thân mình ngại học thêm nhưng thiên hạ đổ xô đi học chả lẽ mình làm ngơ mãi. Chỉ sợ không học thêm, đến lúc thi trượt mọi người lại đổ cho mình chủ quan, lười biếng…”.

Học lò cũng lắm cái hay!

Kể ra học lò cũng có nhiều tác dụng. Ở những trung tâm luyện thi nổi tiếng đa số giáo viên đều là những người có uy tín. Ỏ nhiều nơi như Hà Nội, Thái Bình, Phú Thọ, Nam Định…, giáo viên được các lò mời phần lớn đang dạy ở các trường chuyên, trường có chất lượng đào tạo tốt (tất nhiên không tránh khỏi những trường hợp trung tâm lén “mượn” tên những thầy dạy danh tiếng nhằm câu học sinh). Còn nhớ dạo học lớp 12, giống như nhiều học sinh khác, tôi cũng mon men đến lò học. Học chủ yếu vì nghe danh thầy dạy đã lâu, mà thầy dạy hay không học cũng tiếc. Những tên tuổi như thầy C. dạy văn, cô L. dạy sử, thầy H. dạy lí, thầy H., thày Ch. dạy Hóa,…đã lôi cuốn bao học trò đến lò.

Nhiều bạn cho rằng học ở lò tập trung hơn ở lớp. Nghe thật lạ. Xét về điều kiện học tập, tất nhiên trên lớp ăn đứt ở lò rồi, thế nhưng có thể lí giải khác đi rằng: học lò là tự nguyện đăng kí, nghỉ buổi nào xót tiền buổi đấy nên nhiều bạn tỏ ra có ý thức nghe giảng hơn. Và xem ra nhiều bạn học đôi khi lại làm tăng khí thế học tập. Học lò giúp ta biết thêm nhiều bạn mới ngoài lớp, ngoài trường, giúp ta có cơ hội trao đổi, hỏi han nhiều người. Như bạn Nguyễn Thủy – vốn là học sinh lớp Văn nhưng lại chọn thi ban A, nhờ học lò mà trở nên thân thiết với nhiều bạn lớp Lí, Hóa, Tin. Điều này giúp cô bạn thuận lợi rất nhiều trong việc hỏi han bài vở. Học lò bạn cũng có cơ hội luyện nhiều đề hay, sát với chương trình thi. Ngoài ra, có ý kiến phản ánh rằng, nhiều thầy cô dạy ở lò dường như tận tình, trách nhiệm với học sinh hơn là dạy trên lớp. Đó cũng là một nguyên nhân khiến các bạn đổ xô đi học lò.

Học lò thật lắm gian nan!

Tuy nhiên học lò cũng có không ít điều nan giải.

Chóng mặt về lò! Đấy là nhận xét của nhiều bạn khi học lò. Chóng mặt trước hết ở mục đăng kí phiếu học. Không phải ai có tiền cũng vào được lò. Ở những lò có thầy dạy uy tín, học sinh phải nhanh chân mua phiếu. Nếu chậm trễ sẽ không còn lớp học bởi ở các lò luôn diễn ra tình trạng quá tải. Nhiều lò còn áp dụng biện pháp ép học sinh phải mua một phiếu ghi ít nhất hai môn học, khiến nhiều bạn chạy ngược xuôi tìm người thỏa thuận học chung phiếu.

Chóng mặt vì đông! Ai đã đi học lò mới hiểu cái tên Lò – luyện – thi quả không sai. Như đã nói ở trên, một thời cuối lớp 12 tôi đã từng theo chân bạn đi nếm vị lò. Dù đã hơn một năm trôi qua nhưng những ấn tượng về các lò luyện thi thật khó phai trong tôi. Ấn tượng đầu tiên: lò là những căn phòng khoảng 15-20 mét vuông, có 1-2 cửa ra vào rộng không quá 1 mét cùng vài cửa số. Điều đáng nói là những căn phòng ấy chứa tới hơn 60 người. Trong cái nóng hầm hập, cái nắng như nung của tháng 5, tháng sáu, hàng mấy chục người gần có, xa có, đi bộ có, ròng rã đạp xe hàng hơn chục cây số từ quê lên cũng có, mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi giọt ngắn giọt dài nhỏ trên trán, xô lấn nhau vào lò. Vì quá đông nên để tranh được một chỗ tạm thời chấp nhận được học sinh thường phải đến trước khoảng ba mươi phút, thậm chí cả tiếng nhận chỗ. Bàn học là những mảnh gỗ ghép, chiều ngang không đặt vừa quyển vở. Mỗi bàn chen chúc 5-7 người. Hầu hết phải gấp đôi quyển vở, rúm người, co tay, nghiêng mình để ghi bài. Giá thử chẳng may ai đó chểnh mảng với cái dép, để chúng văng ra khỏi chân, hoặc lỡ có làm rơi bút thước thì cũng khó lòng ngồi quờ được. Trong tiếng quạt trần đập phành phạch hết công suất, tiếng bàn ghế xô lộc cộc, thầy cầm mic nói sang sảng ở trên, học trò lúi húi chật vật ghi ở dưới. Do không gian chật chội, những bàn trên thường kê gần sát bục giảng khiến học sinh rất khó nhìn lên bảng, thường thì phải mỏi cố, hoa mắt nghển lên nhìn. Tuy nhiên với những bàn thứ mười mấy trở xuống thì việc học xem chừng còn vất vả hơn. Một phần là do cách xa thầy, khó nhìn, khó nghe giảng. Một phần cũng do nhiều học sinh lấy cớ đi học để chuyện trò bàn tán ồn ào, khiến nhiều bạn khác khó tập trung vào bài học.

Chóng mặt vì học lò nhiều! Nhiều bạn quá lo lắng cho kì thi đại học nên đã dành cho lò một thời gian dày đặc. Cũng như Thủy, và nhiều bạn khác, Thu (một học sinh ở Thái Bình) đã có ngày học dồn dập năm ca ở lò: từ 7- 9 giờ, 10-12 giờ, 13-15 giờ, 16-18 giờ, 19- 21 giờ. Những bạn ở quê lên thành phố trọ học còn có thể thương lượng thời gian về phòng với chủ nhà. Còn đối với những bạn học trường Chuyên ở kí túc, chỉ còn cách làm đơn gửi nhà trường hoặc đến ca học tối đành khăn gói đến trú nhờ nhà bạn.

Và hậu quả…

Nhiều bạn học thêm căng thẳng quá không còn đủ thời gian sức lực để học bài trên lớp hay tự học ở nhà. Nhiều bạn đánh mất khả năng tự học, trở nên thụ động với mớ kiến thức khổng lồ, không biết mình mạnh yếu chỗ nào để tự điều chỉnh thời gian cho phù hợp với từng phần.

Học lò ít nhiều đều mang lại cảm giác an tâm cho các bạn. Tuy nhiên chính vì an tâm (bởi mình được học nhiều kiến thức hơn những bạn khác) nên không ít bạn chủ quan, học hành chểnh mảng. Trong khi đó, những bạn không học thêm, học lò, do lo lắng nên tự thúc đẩy mình cố gắng hơn. Nhờ thế những kiến thức các bạn tự tiếp nhận được có khi còn lớn hơn những bạn học thêm nhiều.

Học nhiều là một điều tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải luôn chú ý đến sức khỏe của mình, tránh tình trạng chạy đôn chạy đáo tới các lò khiến sức khỏe kiệt quệ, ảnh hưởng tới việc tiếp thu bài. Xin kể một trường hợp vui về Mai Trang – cô bạn tôi, người cũng từng tất bật với việc học lò. Cô bạn vốn thắc mắc không biết cảm giác ngất như thế nào, luôn muốn thử một lần bị ngất. Cuối cùng Trang cũng được “toại nguyện” ở lò học Lí. Sự oi nồng của những ngày hè, không khí chật chội, ngột ngạt của lò khiến Trang ngất tại chỗ. Không chỉ riêng Trang mà nhiều bạn khác cũng từng phải bỏ lò ra về với khuôn mặt trắng bệch, mệt mỏi, uể oải.

Kết luận

Khi được hỏi về chuyện học lò, hầu hết các bạn đã chiến đấu và đang chiến đấu với lò đều trả lời không muốn học, nhưng vì bố mẹ thúc giục, vì số đông đi học, vì kết quả thi đại học nên không có lựa chọn nào khác. Tuy vậy cũng không ít những bạn tự học đạt hiệu quả. Theo bạn Huyền – một học sinh lớp 12 Chuyên Hùng Vương (Phú Thọ) thì học lò là không cần thiết. Huyền cho biết lớp bạn cũng ít nói đến chuyện đi học lò. Hầu hết đều chỉ học trên lớp và tự học ở nhà.

Học lò là một nhu cầu chính đáng trong học đường. Tuy nhiên, khả năng tự học vẫn có vai trò quan trọng nhất. Mong rằng dù học gì đi nữa, các bạn lớp 12 cũng cần biết phân bố thời gian học tập, nghỉ ngơi hợp lí, dành một khoảng thời gian tự học nhất định, để chủ động trong quá trình ôn luyện. Kì thi đại học sắp đến, chúc các chú cá chép 12 vượt vũ môn thành công!

Học “lò” – bao nỗi đa đoan

Tiết lộ công việc “bảo mật” in sao đề thi tốt nghiệp THPT

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng, tuyển sinh du học 2010Chỉ còn 11 ngày nữa là bắt đầu kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh đang “gồng mình” ôn thi, còn các Sở GD-ĐT bắt đầu thực hiện công việc in sao đề thi với 3 vòng độc lập, dưới sự giám sát của công an vì đây là tài liệu “Mật” của quốc gia.

Việc in sao đề thi tốt nghiệp, Bộ GD-ĐT giao cho các sở GD-ĐT có trách nhiệm in sao đề thi của kỳ thi tốt nghiệp cho tất cả các Hội đồng coi thi thuộc phạm vi quản lý và các Hội đồng coi thi thuộc Cục Nhà trường – Bộ Quốc phòng trên địa bàn tỉnh (nếu có).

Quy định thời gian in sao đề thi, số lượng đề thi in sao, chuyển giao đề thi gốc còn nguyên niêm phong cho Hội đồng in sao đề thi; tiếp nhận đề thi in sao đã được niêm phong; tổ chức chuyển đề thi đã được niêm phong đến các Hội đồng coi thi; đảm bảo an toàn, bí mật của đề thi trong quá trình vận chuyển.

Đảm bảo cho khu vực in sao đề thi phải là một địa điểm an toàn, kín đáo, biệt lập và được bảo vệ nghiêm ngặt trong suốt thời gian làm việc, có đầy đủ điều kiện về thông tin liên lạc, phương tiện bảo mật, phòng cháy, chữa cháy.

Bộ yêu cầu, các đơn vị in sao đề thi phải thực hiện nghiêm túc yêu cầu cách ly theo 3 vòng độc lập, những người làm việc trong khu vực in sao đề thi chỉ được hoạt động trong phạm vi không gian cho phép:

Vòng 1 – Vòng in sao đề thi: chỉ gồm có các cán bộ in sao đề thi, tiếp xúc trực tiếp với đề thi; là khu vực khép kín, cách ly tuyệt đối với bên ngoài từ khi mở đề thi gốc và bắt đầu in sao đến khi thi xong môn cuối cùng; cửa sổ các phòng phải đóng kín và niêm phong; các khoảng trống thông ra bên ngoài phải bịt kín bằng vật liệu bền, chắc. Hàng ngày, cán bộ ở vòng 1 tiếp nhận vật liệu và đồ ăn, uống từ bên ngoài chuyển vào qua vòng 2.

Vòng 2 – Vòng bảo vệ trong: chỉ gồm có 1-2 cán bộ an ninh bảo vệ và 1 cán bộ thanh tra trong đoàn thanh tra của Bộ GDĐT; là khu vực khép kín, tiếp giáp với vòng 1, cách ly tuyệt đối với bên ngoài đến khi thi xong môn cuối cùng; đồng thời, vòng này là nơi ăn hàng ngày của những người ở vòng 2. Những người làm việc ở vòng 2 có nhiệm vụ tiếp nhận vật liệu và đồ ăn, uống từ vòng 3 chuyển vào vòng 1; kiểm tra các đồ vật từ vòng 1 chuyển ra (bát đũa, đồ ăn, đồ uống,…).

Vòng 3 – Vòng bảo vệ ngoài: tiếp giáp với vòng 2; gồm công an và nhân viên bảo vệ có nhiệm vụ bảo vệ và là đầu mối giao tiếp giữa vòng 2 với bên ngoài; đảm bảo tối thiểu 2 người trực và phải trực 24/24 giờ. Người không có trách nhiệm, tuyệt đối không được vào khu vực in sao đề thi.

Trong khu vực in sao đề thi, cấm sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc, các loại điện thoại, trừ 1 điện thoại cố định có loa ngoài SP-phone đặt tại vòng 2 được cán bộ công an kiểm soát 24/24 giờ. Mọi cuộc liên lạc đều phải bật loa ngoài, phải ghi biên bản hoặc ghi âm.

Hội đồng in sao đề thi có nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản đề thi gốc còn nguyên niêm phong của Bộ GD-ĐT do Giám đốc sở GD-ĐT chuyển đến, chịu trách nhiệm toàn bộ về sự an toàn, bí mật của đề thi.

Mọi phương tiện, thiết bị, vật tư trong khu vực in sao dù bị hư hỏng hay không dùng đến, chỉ được đưa ra ngoài khu vực cách ly khi thi xong môn thi cuối cùng của kỳ thi.

Tiết lộ công việc “bảo mật” in sao đề thi tốt nghiệp THPT

Tuyển sinh 2010: Làm gì khi mất các giấy tờ liên quan?

Đáp án đề thi đại học 2010, tuyển sinh đại học du học

Từ ngày 30/5 đến 5/6 các trường đại học sẽ gửi giấy báo dự thi cho thí sinh (TS). Ông Ngô Kim Khôi (ảnh) – Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT) – giải đáp những thắc mắc thường gặp của TS trong giai đoạn này.

* Trường hợp mất phiếu số 2, chứng minh nhân dân (CMND), TS phải làm gì, thưa ông?

– Phiếu số 2 rất quan trọng, được coi là biên lai TS đã nộp hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT). Vì vậy TS phải giữ phiếu số 2 trong suốt quá trình dự thi và cả sau này. Trong trường hợp mất phiếu số 2, nếu TS có đề nghị chỉnh sửa  giấy báo thi thì phải mang đầy đủ giấy tờ gồm: giấy báo thi, CMND, giấy chứng nhận tốt nghiệp THPT tạm thời (đối với TS vừa tốt nghiệp) hoặc bằng tốt nghiệp (đối với TS tốt nghiệp các năm trước), làm đơn đề nghị chỉnh sửa.

Nếu mất hoặc chưa có giấy CMND TS vẫn được dự thi. Nhiều trường vẫn chấp nhận giấy tờ tùy thân khác có dán ảnh kèm mộc đỏ chứng thực (như học bạ, thẻ học sinh… hoặc giấy chứng nhận có xác nhận của xã, phường) để thay cho giấy CMND khi TS vào phòng thi.

* Thưa ông, nếu TS không nhận được giấy báo thi thì cần phải làm gì? Nếu bị mất giấy báo dự thi thì TS có được dự thi?

– Nếu đến gần ngày thi vẫn không nhận được thấy giấy báo thi, TS cần liên hệ trực tiếp với trường ĐKDT để có được thông tin về số báo danh, địa điểm thi, phòng thi… của mình. Khi đến làm thủ tục dự thi, TS bắt buộc phải có mặt tại đúng hội đồng thi của mình, mang theo giấy tờ tùy thân hợp lệ có dán ảnh, phiếu số 2, giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời hoặc bằng tốt nghiệp THPT, các giấy chứng nhận ưu tiên, giấy CMND… để trường đối chiếu với hồ sơ gốc và danh sách lưu tại trường.

Nếu các thông tin chính xác, TS sẽ làm giấy cam đoan và chụp ảnh tại chỗ để cấp lại giấy báo dự thi. Sau đó, TS vẫn được dự thi bình thường. Sau khi thi, hội đồng tuyển sinh của trường sẽ tiếp tục tiến hành các khâu hậu kiểm. Nếu bị phát hiện có gian lận để thi hộ, TS sẽ bị xử lý theo quy chế tuyển sinh và các quy định hiện hành.

Tuyển sinh 2010: Làm gì khi mất các giấy tờ liên quan?

Tuyển sinh 2010: Bức tranh nào cho các khối thi?

Đáp án đề thi đại học 2010, tuyển sinhd đại học du họcHồ sơ ĐKDT giảm nhưng số hồ sơ thực lại tăng nên sẽ không làm “hạ nhiệt” tính cạnh tranh giữa cái khối thi mà trái lại sẽ làm tăng sự “khốc liệt” ở một số nhóm ngành. Vậy bức tranh nào cho các khối thi ở kì tuyển sinh ĐH năm nay?

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT thì mùa tuyển sinh năm nay có hơn 1,8 triệu hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT) trong đó hồ sơ ĐKDT các trường ĐH là 1.378.878, chiếm 73,7%; hồ sơ ĐKDT các trường CĐ là 489.864, chiếm 26,3%.

Thống kê cũng cho thấy, khối A vẫn chiếm lượng hồ sơ lớn nhất với 743.607 hồ sơ (53,9%); khối B: 272.608 hồ sơ (19,8%); khối D: 209.102 hồ sơ (15,2%); khối C: 105.151 hồ sơ (7,6%). Các khối còn lại chiếm 3,5%. Hệ CĐ có 61% hồ sơ khối A; 13,3% khối B; 13,9% khối D; 8,4% khối C; còn lại là các khối khác.

Thông qua số lượng hồ sơ ĐKDT nhiều chuyên gia tuyển sinh nhận định sẽ có một cuộc tranh đua quyết liệt khối A, B và D. Sự giảm nhiệt có thể sẽ diễn ra ở khối C. Tuy nhiên mức độ cạnh tranh hay giảm nhiệt sẽ chỉ tập trung vào một số ngành trọng điểm.

Khối A, D: Ngành nào có tính cạnh tranh?

Trong các mùa tuyển sinh trở lại đây, khối A vẫn là sự yêu thích của nhiều bạn thí sinh bởi một lẽ các ngành có tuyển sinh khối này khá đa dạng. Điều này càng được thể hiện rõ khi mà ở mùa tuyển sinh năm nay không chỉ riêng đối với các ngành kinh tế, kỹ thuật mà ngay cả một số ngành xã hội cũng mở rộng sang tuyển sinh khối A.

Qua nhiều mùa tuyển sinh cho thấy với việc chỉ tiêu khá rộng mở như vậy nên sự phân hóa khối A được thể hiện khá rõ nét ở sự cạnh tranh “khốc liệt” chủ yếu tập trung ở một số trường “top trên” hoặc một số ngành “hot”.

Theo nhận định của các chuyên gia thì ở mùa tuyển sinh năm nay quy luật của khối A sẽ không khác gì so với các năm trước. Các trường lớn như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Ngoại thương, ĐH Dược… sẽ vẫn hút được các thí sinh có chất lượng tốt dự thi nên chắc mức điểm chuẩn sẽ tương đối ổn định.

Trong khi đó do số lượng thí sinh ĐKDT ngành nghề được xã hội đánh giá là “hot” trong thời điểm hiện tại như ngành Tài chính – Ngân hàng, Kế toán – Kiểm toán tương đối lớn nên điểm chuẩn các ngành này có khả năng sẽ tạo sự đột biến lớn.

Tuy nhiên do số lượng các trường mở các ngành “hot” tương đối nhiều nên chắc chắn sự đột biến tập trung nhiều ở các trường “top giữa” như ĐH Hà Nội, ĐH Công đoàn, ĐH Tôn Đức Thắng… Đối với các trường “top dưới” đặc biệt là các trường ngoài công lập thì sự cạnh tranh sẽ yếu đi thấy rõ.

Các chuyên gia cũng nhận định, với xu hướng nhiều trường mở rộng tuyển sinh cả hai khối A, D đối với một số ngành “hot” thì việc khối D biến động theo khối A là điều khó tránh khỏi.

Thực tế các năm qua cho thấy, đối với các trường top trên mà tuyển sinh cả hai khối đối với một số ngành “hot” thì điểm chuẩn khối D (chủ yếu là khối D1) thường rơi vào khoảng từ 20-25 (không nhân hệ số môn ngoại ngữ). Bên cạnh đó các trường top dưới cũng có điểm chuẩn khối D biến động trong phạm tương đối rộng (từ 14-18).

Khối B: ngành Y sẽ đột biến

Theo đánh giá của giới chuyên môn thì việc các trường Y năm nay được nhiều thí sinh dự thi khối B đăng ký là điều không có gì khó hiểu. Đây là chính là hiệu ứng tất yếu khi mà ở kì thi năm 2009 điểm chuẩn của các trường này giảm đi một cách đột biến.

Việc điểm chuẩn giảm đã làm cho nhiều thí sinh đánh giá mức độ vào khối các trường Y “dễ hơn” nên năm nay quyết định đầu đơn vào. Xu hướng này thể hiện rõ nét nhất ở trường ĐH Y Hà Nội khi mà số lượng hồ sơ ĐKDT tăng 50% so với năm 2009. Tuy nhiên, sự đầu đơn vào khối các trường Y tăng lại đồng nghĩa làm giảm “sức nặng” đối với các trường khác có tuyển sinh khối B.

Các chuyên gia nhận định với xu hướng như vậy thì chắc chắn điểm chuẩn khối B đối với nhóm các trường Y năm 2010 sẽ có sự đột biến mạnh so với năm 2009. Tuy nhiên sự tập trung này sẽ kéo theo điểm chuẩn một số ngành tuyển sinh khối B khác như công nghệ sinh học, Hóa học, Nông lâm… giảm nhiệt đi đáng kể.

Khối C: Liệu có giảm nhiệt?

Với việc thí sinh đăng ký dự thi ở khối C ở mức khiêm tốn nên sẽ làm tính cạnh tranh ở khối thi này nhẹ nhàng đi đáng kể.

Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia thì với việc một số trường có truyền thống đào tạo khối C cũng cắt một phần chỉ tiêu để tuyển sinh khối A như ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐH Quốc gia Hà Nội sẽ làm cho tính cạnh tranh một số ngành nghề không giảm mà vẫn có tính ổn định hoặc tăng nhẹ.

Xu hướng các mùa tuyển sinh trước đây cho thấy các ngành nghề khối C mà thí sinh đặc biệt quan tâm đó là báo chí, tâm lý học hoặc thư viện… luôn có mức điểm chuẩn dao động từ 17-21. Trong khi đó ở mùa tuyển sinh năm 2010 thí sinh vẫn tiếp tục nuôi “sở thích” này nên chắc chắn tính cạnh tranh của khối C khó có sự thay đổi so với các năm trước.

Sự tập trung vào một số ngành trọng điểm của khối C sẽ làm cho một số ngành xã hội khác lâu nay khó tuyển sinh như Triết học, công tác xã hội… sẽ tiếp tục tái diễn và nhiều khả năng sẽ dành chỉ tiêu cho NV2 hoặc NV3.

Tuyển sinh 2010: Bức tranh nào cho các khối thi?

Thủ khoa khối C năm 2009 chia sẻ bí quyết “ghi điểm”

Học theo dàn ý, ghi điểm cao bằng những sáng tạo mở rộng là một trong những bí quyết đạt thủ khoa kỳ tuyển sinh 2009 của Vũ Thị Phương, nữ sinh năm thứ nhất khoa quốc tế học, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội.

Với cách học và làm bài khoa học, cô nữ sinh quê Phú Thọ Vũ Thị Phương đã đạt thủ khoa toàn quốc khối C trong kỳ tuyển sinh 2009 với 27 điểm ba môn (Văn 9, Sử 8,5, Địa 9,5).

Học Văn: Nắm ý chính thôi chưa đủ

Theo Phương, phương pháp học văn tốt nhất là kết hợp đọc và viết. Trước hết phải đọc tác phẩm, nắm được nội dung, ý nghĩa, chi tiết hình ảnh độc đáo của tác phẩm, rồi đọc thêm tài liệu tham khảo để bổ sung kiến thức. Sau đó, người học phải tập viết nhiều lần trên giấy, để nhớ được những nội dung chính của tác phẩm và rèn sự phát triển tư duy của mình. “Em thường viết nhiều lần ra giấy nháp hoặc giấy thi và thấy cách học này rất hiệu quả”.

Về cách học ôn môn văn, Phương thường ôn theo bài, theo đề. “Tức là mình sẽ ôn từng tác phẩm với những nội dung chính, sau đó tìm những đề liên quan đến tác phẩm đó. Ví dụ, tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam có thể tìm được nhiều đề liên quan như: Phân tích tác phẩm, Bình giảng tác phẩm hoặc phân tích một nhân vật trong tác phẩm hay so sánh giá trị nội dung, nghệ thuật với một tác phẩm khác cùng thể loại …”, Phương giải thích. Ngoài ra, khi học ôn, Phương cũng tìm tòi, tích lũy cho mình những kiến thức mở rộng, để có thể so sánh, liên tưởng với nội dung của từng bài.

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học du học 2010

Nguyễn Thị Phương trong bộ trang phục dành cho thủ khoa của ĐH Quốc gia Hà Nội.

Phương cũng cho biết khi làm một bài văn trước tiên phải nêu đủ các ý chính nhưng chỉ như thế thôi thì chưa đủ. Vì nếu chỉ nêu được ý chính của tác phẩm thì bài nào cũng như bài nào. Muốn gây được ấn tượng với người chấm, bài viết cần phải có điểm nhấn, đó là điểm khác biệt, khiến bài viết của mình nổi bật hơn các bài khác. Để làm được điều này, Phương cho rằng người viết cần có những kiến thức mở rộng. “Để có kiến thức mở rộng bài viết, làm bài viết của mình sâu hơn thì em phải đọc thêm tài liệu tham khảo. Ví dụ, trong tác phẩm em nhận thấy có hình ảnh cánh chim là hình ảnh hay, mình thấy thích thì em “đầu tư” cho nó hơn bằng cách liên hệ với hình ảnh cánh chim ở những tác phẩm khác, xem nó có gì đặc biệt, sau đó đưa ra những cảm nhận, nhận xét của cá nhân”. Phương nói.

Theo cô “thủ khoa” này, phần tác giả, tác phẩm là phần rất quan trọng và dễ “ăn điểm” của một bài tập làm văn nhưng hầu như thí sinh thường ít “chăm sóc” đến phần này. Do đó, sẽ rất sai lầm nếu bỏ qua phần tác giả, tác phẩm vì phần này thưởng chiếm khoảng hai điểm trong mỗi bài văn. Trong khi đó, phần này không quá nhiều và cũng không khó học, có thể chỉ cần học kiến thức trong sách giáo khoa là đủ. Tuy nhiên khi làm bài, người học không thể bê nguyên những gì có trong sách có vào bài viết mà phải truyền cảm xúc của mình vào trong đó, phải đưa được những so sánh đánh giá vị trí tác giả, tác phẩm trong nền văn học Việt Nam hoặc văn học trên thế giới. “Phần này là phần đầu tiên của thân bài nên không thể viết qua loa được nhưng cũng không nên làm quá dài. Em thường làm phần này khoảng hai mặt của tờ giấy thi”, Phương chia sẻ.

Trong một bài văn, phần mở bài, thân bài, kết luận đều quan trọng như nhau. Nhưng theo Phương, nên đầu tư hơn để tạo ấn tượng ngay từ đầu cho người chấm. Có thể trình bày mở bài theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Cách gián tiếp thường độc đáo hơn nhưng nếu trong thời gian ngắn mà chưa nghĩ được thì có thể dùng cách mở bài trực tiếp.

Tuy nhiên, Phương cũng lưu ý một điểm tối kị của bài viết là thiếu hoặc làm quá sơ sài phần kết luận. “Các bạn nên chia thời gian cho từng phần. Phần kết luận cũng có vị trí quan trọng như phần mở bài. Do đó, nếu mở bài làm 10 dòng thì kết luận mình cũng phải làm 10 dòng, tức mở bài và kết luận phải cân nhau”, Phương bật mí.

Học Sử: Nhớ từng chùm sự kiện

Trong ba môn thi, Phương sợ nhất là môn Sử bởi môn này nhiều sự kiện, vừa dài vừa khó nhớ. Do đó, phương đầu tư nhiều thời gian cho môn học này nhất.

Cách học của Phương là học theo từng mốc thời gian, từng sự kiện. Trước hết, Phương dùng bút nhớ đánh dấu các mốc sự kiện quan trọng, sau đó thống kê ra giấy. Để nhớ được các sự kiện, Phương thường tìm cho chúng một mối liên hệ. Như vậy khi nhắc đến một mốc thời gian Phương có thể nhớ ra tất cả các sự kiện liên quan.

Ngoài ra, cô thủ khoa cũng tiết lộ một cách học khác cũng dễ thuộc bài là học cùng bạn bè. “Bạn có thể rủ một người bạn học cùng, hoặc tranh thủ giờ ra chơi, một bạn hỏi ngày tháng, một bạn trả lời nội dung sự kiện. Em thấy cách học này vừa dễ nhớ, vừa nhớ lâu”, Phương tâm sự.

Để bài thi đạt điểm cao, theo Phương phải đọc kỹ đề, trước khi làm bài nên bỏ ra khoảng 10 phút để gạch ra giấy nháp các ý, các nội dung so sánh để biết những nội dung cần trình bày vào bài thi. “Làm như vậy, bài làm của mình sẽ không bị sót ý, vừa đảm bảo được tính hệ thống và tiết kiệm thời gian suy nghĩ”, Phương nói.

Dù là bài thi môn Sử, nhưng Phương cho rằng cũng cần viết theo bố cục ba phần: mở bài, than bài, kết bài. Phần thân bài viết theo hệ thống ý rành mạch, các ý có thể đánh dấu 1, 2, 3. Các mốc thời gian cần phải thống kê thật chính xác, nếu không nhớ chính xác thì nên bỏ qua. “Thiếu có thể không sao nhưng nếu ghi sai thì sẽ bị trừ điểm”, Phương căn dặn.

Học Địa: Không được chủ quan

Theo Phương, tâm lý của các bạn thi khối C thường chủ quan với môn địa vì có cảm giác nó gần gũi với đời sống thực tế, dễ học. Nhưng thực tế môn địa cũng rất “hóc” vì có  nhiều số liệu. “hầu như mỗi phần có một bảng số liệu nên mình phải tìm phương pháp học, bảng ấy như thế nào để dễ nhớ. Thông thường thì em viết ra hoặc tìm quy luật của một bảng để nhớ từng số liệu”, Phương nói

Môn Đia lý bao gồm nhiều phần, mỗi phần có nhiều bài nên Phương đã chọn cách học từng phần một, có hệ thống, chứ không học tràng giang đại hải. Tuy không đồng tình với cách học tủ học lệch nhưng theo Phương nên đầu tư nhiều cho phần các vùng. Bởi lẽ, bai thi nào cũng có phần vùng, hơn nữa kiến thức của phần vùng thường bao quát các phần kia.

Về phần bài tập địa, theo Phương rất dễ “ôm trọn” điểm nếu xác định đúng dạng biểu đồ. Tuy nhiên nếu xác định sai, bạn sẽ sai hết. Phương mách nước: “Ngay từ khi học mình phải biết tổng quát, phân thành các dạng biểu đồ. Mỗi dạng có những cụm từ định nghĩa riêng nên khi đọc đề thi xong các bạn nên gạch chân các cụm từ quan trọng để xác định đúng dạng biểu đồ, tránh nhầm lẫn mất điểm”.

Thủ khoa khối C năm 2009 chia sẻ bí quyết “ghi điểm”

Những ngành “dễ thở” 2009 2010

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học du học 2010

– Bên cạnh những ngành có sự cạnh tranh khốc liệt trong năm nay như Giáo dục tiểu học – ĐH Sài Gòn (1 chọi 54), Điều dưỡng – ĐH Y Dược TPHCM (1 chọi 51)…, có rất nhiều ngành học lượng hồ sơ nộp vào không đủ so với chỉ tiêu hoặc suýt soát chỉ tiêu.

Với các ngành này, dự báo thí sinh chỉ cần có điểm thi bằng điểm sàn là có thể đỗ.

“Khóc” với song ngữ Nga – Anh!

ĐH Sư phạm TPHCM có lẽ phải “khóc” thật khi số lượng hồ sơ nộp vào ngành Cử nhân Song ngữ Nga- Anh của trường chỉ là 5 trong khi có đến 60 chỉ tiêu dành cho ngành này (1 chọi 0,08). Ngành sư phạm Song ngữ Nga – Anh cũng rơi vào tình trạng “ế ẩm” tương tự khi chỉ có 17 hồ sơ nộp vào với 60 chỉ tiêu (1 chọi 0,6).

Năm nay, với ngành Song ngữ Nga – Anh, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM lại “may mắn” hơn nhiều so với ĐH Sư phạm TPHCM. Trường đã nhận được 140 hồ sơ với 70 chỉ tiêu, vượt so với dự kiến. Tuy vậy, ngành Ngữ văn Đức chỉ nhận được suýt soát hồ sơ vào trường (1 chọi 1,1).

Một số ngành khác tại các trường mà thí sinh thi bằng điểm sàn là có thể đỗ còn có: SPKT Nhiệt điện lạnh (1/0,3), SPKT công nghiệp (1/0,4), SPKT Xây dựng dân dụng và Công nghiệp, SPKT Cơ khí động lực, Thiết kế máy (1/1,10)… của ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM;

Hệ thống thông tin kinh tế (1/0,61) của ĐH Nha Trang; Thiết kế đồ họa (1/0,4), Tiếng Trung Quốc (1/0,38), Tiếng Anh (1/0,91), Thư viện thông tin, SPKT Nông nghiệp (1/0,9), Công tác xã hội (1/0,62), Quản lý văn hóa (0,55), SPKT Công nghiệp (0,667) của ĐH Đồng Tháp, Lâm sinh đồng bằng (1/1,1) của ĐH Cần Thơ…

Tạm ngưng tuyển sinh?

Nếu tình trạng khan hiếm thí sinh vào ngành SP Song ngữ Nga – Anh kéo dài đến cuối mùa tuyển sinh, chắc chắn ĐH Sư phạm TPHCM sẽ phải tính đến phương án khác cho các SV ngành này đã thi đỗ vào trường mình. Khi đối mặt với thực trạng này, đa số các trường chọn giải pháp vận động thí sinh chuyển sang học ngành khác trong trường.

Ngành Tiếng Nga cũng làm “đau đầu” nhiều trường ĐH vì thí sinh thi vào quá ít. Đơn cử như ĐH Hải Phòng, đã nhiều năm ngành tiếng Nga thiếu thí sinh trầm trọng. Năm nay trường đành phải tính tới phương án đóng cửa ngành này vì thí sinh quá ít thì không thể bù lỗ cho việc đào tạo.

Mặc dù không công bố tỷ lệ chọi cụ thể của các ngành học trong trường nhưng chắc chắn với tình hình thí sinh “chê” khối ngành Nông lâm như năm nay, ĐH Nông lâm TPHCM sẽ có những ngành tuyển được rất ít SV. Các năm trước, với những ngành như Khuyến nông & phát triển nông thôn, Kinh doanh nông nghiệp, trường đã phải “gắng gượng” để duy trì thì năm nay sẽ phải “cân nhắc” tiếp việc đào tạo của mình.

Ngành Cơ khí nông nghiệp chỉ nhận được 15 hồ sơ cho 50 chỉ tiêu vào trường (1 chọi 0,3) là điều mà ĐH Nông lâm Thái Nguyên đã dự đoán được trước khi nhận hồ sơ. Trước đó, trường cho biết năm nay sẽ vận động các thí sinh thi vào ngành này chuyển sang ngành khác. Mở được 3 năm nhưng trường chỉ tuyển đủ thí sinh vào năm đầu tiên còn sau đó đều thiếu nghiêm trọng.

Tỷ Lệ Chọi Đại Học Cao Đẳng 2010

Đừng quá lo tỉ lệ “chọi” 2009 2010

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học  cao đẳng 2010
– Tỉ lệ “chọi” nhiều ngành cao ngất ngưởng, có ngành lên đến 1 “chọi” 54. Điều này có thật sự đáng lo khi cạnh tranh một suất vào ĐH? Thí sinh có cần băn khoăn khi lỡ đăng ký dự thi vào ngành có tỉ lệ “chọi” cao hay vui mừng khi vào ngành có tỉ lệ “chọi” thấp?

Trưởng phòng đào tạo một trường ĐH có đông thí sinh đăng ký dự thi năm nay cho biết không muốn công bố tỉ lệ “chọi” theo ngành bởi có những ngành tỉ lệ “chọi” rất cao, có thể khiến thí sinh hoang mang trước một kỳ thi quan trọng. Bởi tỉ lệ “chọi” cao chưa hẳn điểm chuẩn sẽ cao và ngược lại.

Điều này dễ nhận thấy nhất trong điểm chuẩn năm 2009 của Trường ĐH Y dược TP.HCM. Ngành bác sĩ đa khoa có tỉ lệ “chọi” thấp nhì trường, chỉ 1/10,4 nhưng điểm chuẩn lại lên tới 25, cao nhì trường, chỉ sau ngành dược (1/19,5) cao nhất trường với 25,5 điểm. Trong khi những ngành như vật lý trị liệu (1/19,5), gây mê hồi sức (1/23), xét nghiệm (1/36) điểm chuẩn chỉ dao động từ 19,5 – 21,5. Ngành có tỉ lệ “chọi” cao nhất trường năm 2009 là điều dưỡng (1/65) nhưng điểm chuẩn chỉ ở mức 19,5.

Chỉ để tham khảo

Ở một số trường như ĐH Cần Thơ, ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM), ĐH Sư phạm TP.HCM… cũng tương tự. Năm 2009, ngành sư phạm giáo dục tiểu học có tỉ lệ “chọi” 1/23, cao nhất Trường ĐH Cần Thơ nhưng điểm chuẩn NV1 chỉ 13,5, cao hơn điểm sàn 0,5 điểm.

Tương tự, các ngành công nghệ thông tin có tỉ lệ “chọi” 1/13 nhưng điểm chuẩn chỉ 15,5, công nghệ thực phẩm 1/30 và điểm chuẩn 16, khoa học môi trường 1/27 – điểm chuẩn 16, quản trị kinh doanh 1/22 – điểm chuẩn 16.

Trong khi đó nhiều ngành có tỉ lệ “chọi” thấp như tài chính ngân hàng chỉ 1 “chọi” 4,2 nhưng điểm chuẩn lên tới 18.

Cạnh tranh chất lượng

Một thực tế là những ngành công nghệ truyền thống ở các trường ĐH Bách khoa, Khoa học tự nhiên, Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM), Sư phạm kỹ thuật TP.HCM… như công nghệ thông tin, môi trường, công nghệ sinh học, xây dựng, nhóm ngành tài chính ngân hàng, y dược dù tỉ lệ “chọi” có thấp thì điểm chuẩn cũng luôn đứng đầu trường bởi những thí sinh “sừng sỏ” mới đăng ký vào đây. Sự cạnh tranh về số lượng tuy ít nhưng cạnh tranh về chất lượng, điểm số lại rất gay gắt.

Thạc sĩ Lâm Tường Thoại – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM) – chia sẻ: tỉ lệ “chọi” không nói lên điều gì đến điểm đầu vào cả.

Theo thạc sĩ Thoại, kinh nghiệm nhiều năm làm tuyển sinh cho thấy hai ngành tài chính ngân hàng và kinh tế đối ngoại của trường luôn có điểm chuẩn cao nhất dù tỉ lệ “chọi” mỗi năm có dao động lên xuống so với các ngành khác.

Thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Cần Thơ – cho biết năm nay có sự dịch chuyển mạnh hồ sơ đăng ký dự thi sang hai ngành kinh tế môi trường và kinh tế thủy sản do năm rồi tỉ lệ “chọi” hai ngành này thấp. Tuy nhiên, dự kiến điểm chuẩn sẽ cao hơn chút đỉnh chứ không quá cao bởi thí sinh thi vào những ngành này cũng đã tự lượng sức học của mình.

Thí sinh không nên quá quan tâm đến tỉ lệ “chọi”, cái cần tham khảo là điểm chuẩn những năm trước để từ đó phấn đấu học tập đạt ngang bằng hoặc cao hơn mức điểm đó.

Những ngành nhiều cơ hội

Tuy nhiên, cũng có không ít ngành tỉ lệ “chọi” thấp, điểm chuẩn cũng thấp theo. Đây là những ngành vốn có “truyền thống” ít thí sinh trong nhiều năm liền và điểm chuẩn cũng vì thế chỉ dao động quanh điểm sàn.

Thống kê những mùa tuyển sinh gần đây cho thấy những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm, khoa học cơ bản, nhiều ngành nhóm kỹ thuật có mức điểm chuẩn chỉ bằng hoặc cao hơn điểm sàn 0,5-2 điểm. Năm 2009, các ngành khoa học cơ bản tại ĐHQG TP.HCM như khoa học vật liệu, hải dương học – khí tượng – thủy văn, địa chất (ĐH Khoa học tự nhiên) hay trắc địa, công nghệ vật liệu, vật lý kỹ thuật (ĐH Bách khoa) có điểm chuẩn chỉ 13-14 điểm.

Năm nay, chỉ một số ít ngành có tỉ lệ “chọi” tăng nhẹ, trong khi hầu hết đều giảm nên điểm chuẩn vào những ngành này cũng sẽ không có nhiều thay đổi.

Trong khi đó cũng như ở nhiều trường khác, những ngành công nghệ “hot” như môi trường, công nghệ sinh học tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên có tỉ lệ “chọi” tăng cao ngất ngưởng nên sẽ có nhiều biến động về điểm.

Trong những năm gần đây, hầu hết các trường đều khá vất vả tuyển sinh những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm. Năm nay, trong bối cảnh hồ sơ giảm chung, lượng hồ sơ vào nhóm ngành này càng ít hơn. Ngoại trừ một số ngành nông lâm tại Trường ĐH Cần Thơ có tỉ lệ “chọi” tăng, nhưng thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An dự báo điểm chuẩn sẽ không có nhiều thay đổi.

Ở nhóm ngành kinh tế, điểm chuẩn các ngành hệ thống thông tin quản lý và kinh tế học luôn thấp nhất trong các trường. Trong khi đó ngành quản trị luật (ĐH Luật TP.HCM) và luật dân sự (ĐH Kinh tế – luật ĐHQG TP.HCM) có tỉ lệ “chọi” chỉ 1/2.

Đừng quá lo tỉ lệ “chọi”

Hồ sơ đại học 2010 giảm, thí sinh “thật” tăng

Đáp Án Đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010– Trước thông tin hồ sơ đăng ký dự thi và tỷ lệ “chọi” giảm, nhiều thí sinh khấp khởi mừng thầm: cửa trường ĐH đã rộng mở hơn bao giờ hết. Thế nhưng, mọi chuyện chưa chắc đã hẳn thế. Và phải chăng mùa thi năm nay sẽ dễ thở hơn?

Chọn trường thi tập trung hơn

Thông tin từ 63 sở GD-ĐT trên cả nước cho biết lượng hồ sơ đăng ký dự thi năm nay giảm mạnh so với năm 2009. Đại diện sở có lượng hồ sơ lớn nhất cả nước, bà Tạ Song Hà, Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội cho hay: Hồ sơ đăng ký của học sinh Hà Nội năm 2010 giảm 17,2% (160.000) so với năm 2009. Tuy nhiên, về tỷ lệ hồ sơ trên một thí sinh thì lại là một tín hiệu vui cho các trường ĐH. Năm 2009, trung bình một thí sinh nộp trên 2 hồ sơ, nhưng năm 2010 giảm còn 1,9 hồ sơ/thí sinh (nếu tính riêng học sinh lớp 12 thì ở mức 1,7 hồ sơ/thí sinh). Tiếp sau Hà Nội là TPHCM cũng giảm đến 10.000 hồ sơ nhưng tình trạng một thí sinh nộp trên 2 hồ sơ không phổ biến như các năm trước.

Sau khi tính toán, trường có lượng hồ sơ luôn dẫn đầu cả nước trong những năm gần đây là Trường ĐH Cần Thơ thở phào nhẹ nhõm với việc trường sụt giảm đến 9.000 hồ sơ. Th.S Nguyễn Vĩnh An, Trưởng phòng đào tạo ĐH Cần Thơ lý giải: Năm nay số thí sinh đăng ký dự thi vào trường thi 2 khối chỉ có 4,9%. Trong khi đó, năm 2009 tỷ lệ này là 8,2%. Điều này cho thấy lượng thí sinh ảo giảm nhiều so với mọi năm. “Và như thế, hội đồng tuyển sinh của trường cũng vui hơn khi bài toán bù lỗ không quá khó giải như mọi năm khi tỷ lệ sinh viên dự thi chỉ từ 60%-70%” – ông An lạc quan. Trong khi đó, Trường ĐH Nông Lâm TPHCM giảm gần 11.000 hồ sơ nhưng cũng không lo lắng vì năm nay trung bình một thí sinh thi vào trường chỉ nộp 1,9 hồ sơ, năm 2009 là 2,5 hồ sơ/thí sinh.

Như vậy, có thể nhận định năm 2010 tỷ lệ thí sinh “thật” so với số hồ sơ đăng ký tại các trường ĐH sẽ cao hơn so với mọi năm.

Đầu vào sẽ thấp?

Lượng hồ sơ đăng ký dự thi giảm kéo theo tỷ lệ chọi nhiều trường giảm. Tuy nhiên, tỷ lệ chọi thấp có thật sự dễ thở cho thí sinh hay có làm cho chất lượng đầu vào của nhiều trường sẽ sụt giảm theo?

Liên tục trong những ngày gần đây, nhiều trường ĐH thông báo tỷ lệ chọi cho từng ngành nhằm giúp thí sinh biết thông tin ngành mình đăng ký dự thi sẽ đối đầu với bao nhiêu đối thủ. Thực tế cho thấy, những mùa tuyển sinh gần đây, nhiều trường ở tốp đầu như Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TPHCM, ĐH Y Dược, Ngoại thương… tỷ lệ chọi chỉ dao động từ 1/2,2 đến 1/2,9 và ngày càng ít thí sinh đăng ký dự thi, nhưng thực tế điểm đầu vào vẫn khá cao, từ 21-25 điểm trở lên.

ng Nguyễn Thanh Nam, Trưởng phòng Đào tạo ĐH Bách khoa TPHCM chia sẻ: Trường không bận tâm lắm đến hồ sơ giảm mà chỉ quan tâm đến kết quả điểm thi của thí sinh. Không nên suy diễn hồ sơ giảm, tỷ lệ chọi giảm tất yếu kéo điểm đầu vào xuống thấp. Ông Nguyễn Kim Quang, Trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Khoa học Tự nhiên cho biết: Việc hồ sơ giảm năm nay ở một số trường là tình hình chung và phần nào đó cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào của một số ngành. Tuy nhiên, đối với những trường lớn thì họ giữ uy tín không lấy điểm thấp mà sẵn sàng lấy điểm cao nên thí sinh hãy thận trọng.

Căn cứ hồ sơ đăng ký dự thi vào các trường đại học thuộc ĐH Quốc gia TPHCM, ông Huỳnh Minh Trí lưu ý: Mùa tuyển sinh năm 2010 thí sinh tại TP đăng ký vào các trường thành viên của ĐH Quốc gia TPHCM không nhiều như mọi năm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đầu vào những trường này sẽ thấp. Thực tế nhiều thí sinh học các trường THPT có tiếng như Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa, THPT Năng Khiếu, Nguyễn Thị Minh Khai… mới dám đăng ký thi vào những trường này. Nhìn lại mùa tuyển sinh năm 2009, nhiều trường ĐH có lượng hồ sơ tăng bất ngờ kéo theo tỷ lệ chọi tăng như ĐH Công nghiệp TPHCM, ĐH Tôn Đức Thắng… nhưng điểm đầu vào cũng chỉ bằng điểm sàn hoặc nhích khoảng 1, 2 điểm.

Trong khi đó, nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Đắc Lắc, Lâm Đồng… chỉ có thí sinh giỏi hoặc học trường chuyên mới đăng ký thi những trường lớn, còn đa số các em không dám phiêu lưu nên nộp hồ sơ vào các trường đại học tại địa phương cho chắc ăn

Hồ sơ giảm, thí sinh “thật” tăng

22 loại máy tính thí sinh được mang vào phòng thi

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010– Bộ GD-ĐT vừa công bố danh sách máy tính cầm tay được đem vào phòng thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm nay. Đó là những máy tính không có chức năng soạn thảo văn bản, không có thẻ nhớ cắm vào.

Theo quy chế thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ, thí sinh chỉ được phép mang vào phòng thi các máy tính thông dụng, làm được các phép tính số học, phép tính lượng giác và phép tính siêu việt, không có chức năng ghi chép, ghi số điện thoại, không có thẻ nhớ.

Cụ thể, các máy tính thí sinh được mang vào phòng thi gồm:

Máy Casio FX 95, Casio FX 220, Casio FX 500A, Casio FX 500 MS, Casio FX 500 ES, Casio FX 500 VN Plus, Casio FX 570 MS, Casio FX 570 ES.

Máy Vietnam Calculator VN 500 RS, Vietnam Calculator VN 500 ES, Vietnam Calculator VN 570 RS, Vietnam Calculator 570 ES.

Máy VinaCal 500 MS, VinaCal 570 MS, Sharp EL 124 A, Sharp EL 250 S, Sharp EL 506 W, Sharp EL 509 WM, Canon FC 45 S, Canon LS 153 TS, Canon F 710, Canon F 720 và các máy tính tương tự.

22 loại máy tính thí sinh được mang vào phòng thi