Đáp án môn sinh khối B đại học Ms 958 381 826 615 473

Đáp án môn Sinh

Câu 724 958 381 826 615 473
1 B D B A B B
2 A A A B D C
3 B B B B D A
4 B B A A A A
5 D D D C C B
6 B B A C B A
7 B A D B C B
8 C D A C B B
9 C D C D B A
10 B D D C A C
11 C B D D A B
12 D A A A B B
13 B B B C A C
14 A D A A C C
15 D C A C A C
16 B B B D C C
17 D C B B C A
18 D A C A C A
19 C C A A C A
20 A B A D C B
21 B C D D D A
22 D C B B D D
23 D B B D C A
24 D A C C C B
25 C A B A B C
26 C B D B B C
27 D C B C B C
28 A C D A D B
29 A B A B B B
30 D B B D B C
31 A A D A C C
32 C D C D C C
33 B D B D D D
34 D B D A A A
35 B C D C D A
36 C A C B C A
37 C C B A B D
38 D B D C D B
39 D C B A D D
40 A A C B D B
41 A A A C C C
42 C D C D B D
43 A D B D B D
44 A C B D C D
45 C D A D B B
46 B B A C D C
47 C C B D B A
48 B C A D B D
49 C B A C B D
50 B A C B A C
51 A
52 B
53 D
54 A
55 B
56 D
57 C
58 D
59 D
60 B

Đáp án môn sinh khối B đại học Ms 958 381 826 615 473

Đáp Án môn Văn khối C Đại học Năm 2010

Gợi ý giải đề văn khối C

I.Phần chung

Câu 1  : Anh Chị hãy trình bày ngắn gon về sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh ?

+ Giới thiệu phong cách nghệ thuật Hồ chí Minh

–       Phong cách nghệ thuật riêng vô cung đặc sắc

+  Ở  mỗi thể loại văn học dù trong văn chính luân truyện ký hay thơ ca phong cách nghệ thuật HCM hết sức đa dạng  phong phú mà thống nhất

–       Kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển và hiện đại

–       Cách viết ngắn gọn ,trong sang ,giản dị sử dụng linh hoạt cá thủ pháp ,biện pháp nghệ thuật khác nhau .nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc tư tuởng và tình cảm của người cầm bút

–       Từ tư tưởng tới hình tượng nghệ thuật đeu luôn luôn vận đọng một cách tự nhiên ,nhất quán ,hướng về sự song ánh sang và tương lai

+ Qua những sang tác  của mình  HCM đã bộc lộ phong cách nghệ thuật vô cùng độc  đáo hấp đãn có giá trị bến vững .Phong cách nghệ thuật ấy đã góp phần giúp cho những sang tác của Người không chỉ là hành vi chính trị , hành vi cách mạng mà còn là các tác phẩm văn chương chân chính.

Câu 2

* : Giải thích nhận định :

– Nói lên ý thức trách  nhiệm của mỗi cá nhân tác động đến đời sống xã hội

– sử dụng biện pháp so sánh : giữa “ thói vô trác nhiệm ở mỗi cá nhân với ‘’m ột thứ AXIT vô hình ‘’ nhằm chỉ ra hậu quả ‘’ có thể ăn mòn cả một xã hội

*phân tích

-Tinh thần trác nhiệm của con người

+ Là ý thức của mỗi người đối với công việc những công việc trong xã hội diễn ra theo hương tích cực

+Tinh thần trá nhiệm là thước đo đánh giá cao nhân cách của mỗi con người

+ Hiện nay tinh thần trác nhiệm của con người được nâng cao rõ rệt trong moi đời sống con người

-Thói vô trác nhiệm

+Là ý thức của mỗi người đối với những công việc trong xã hội diễn ra theo hướng tiêu cực cần bài trừ loại bỏ ra khỏi xã hội

-Thói vô trách nhiệm là mai một nhân cách của con người biến họ trở thành con người không có ích cho xã hội

+ Hiện nay thói vô trách nhiệm của con người vẫn còn tồn tại trong đơì sống xã hội

*Rút ra bài học cần nâng cao tinh thần trách nhiệm và vài trừ thối vô trách nhiệm của con ngưòi trong cuộc sóng hiện nay

.PHần riêng

Câu IIIa . Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ (..)

-Đoạn thơ năm ở khổ hai tác phẩm tả cảnh song nước cùng với nỗi buồn chấp nhận sự xa cách

-Hai câu đầu ‘Gío theo lối gió ……hoa bắp lay ‘’

Nội dung : hai câu thơ tả thực về cảch song êm đềm nhịp điệu khoan thai _Sông Hương xứ Huế, cảnh mây gió đối nhau chuyển động ngượic chiều ,gió có lối của gió mây có lối của mây cảnh đẹp êm đềm nhưng trống vắng lạnh lẽo và buồn ,Hoa bắp lay làm cho không gian càng buồn hơn , đó là sự trống trải của long ngưòi đứng trước thự tế chi lìa xa cách cảnh vừa thực vừa mộng có song có thuyền nhưng lại rất mộng vì song trăng thuyền trăng bến trăng ,dòng song không còn là dòng song của song nước mà là song của ánh sang lấp lánh ánh bạc .

Hại câu tiếp: Con thuyền vốn có thực ,cũng thành mộng tưỏng, thành thuyền trăng đậu bến  chở trăng về một nơi nào đó trong mơ.Trăng chở thành du khách trên sông.’’T ối nay ‘’c âu hỏi cuối cùng của khổ thơ nói lên sự băn khoăn lo lắng của tác giả nỗi buồn cô đơn của tác giả không đáp ưngd được tâm hồn thi sĩ

Nghệ thuật :phác hoạ những chi tiết đẹp nhất huyền ảo thơ mộng lãng mạng  xây dựng hình ảnh thơ vừa thực vừa ảo nhịp điệu 4.3 gợi cảm câu hỏi tu từ tinh tế

  • Phân tích nội dung bài ‘’TR ÀNG GIANG’’

-Hai câu đầu cảnh hoàng hôn song nước

Nghệ thuật : Hai câu thơ vẽ ra hai nét một nét về mây một nét về cánh chim ,Nát phác hoạ mây đùn núi bạc gợi được cái nhìn gợi cảm những đám mây trắng đùn lên về phía chân trời ánh dương phản chiếu và những đám mây lấp lánh như ngọn núi bạc

Qua đó thấy đươcj sự nhạy cảm tinh tế của hồn thơi lãng mạng yêu que hương đất nước gắn với quê hương đất nước trước sự rợn ngợp của không gian

Hình ảnh cánh chim nhấn mạnh sự rộng lớn bao la của vũ trụ

-Nghệ thuât 2 : Hình ảnh thơ có ý cổ điển mà vẫ hiện đại khổ thơ mới

Hai câu tiếp :Nghệ thuật một dùng từ chính xác’’ lòng quê ‘’

Nghệ thuật 2: lấy từ đốc đáo ‘’d ờn dợn ‘’

Nghệ thuât 3: nghệ thuâth thơ vừa cổ điển vừa hiện đại

*Nét chung của hai đoạn thơ vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước thể hiện tình yêu của nhà thơ được gửi gắm trong mỗi thi phẩm .

Kết luận :Lời thơ bộc lộ tình cảm mang tính thời đại tình yêu quê hương đất nước sâu lặng của hai nhà thơ

Câu III B

:Giới thiệu tác giả tác phẩm hoàn cảnh ra đời hai tác phẩm

-Nêu chủ đề của từng đoạn

-Giải quyết vấn đề

-khái quát tên và chủ đề hai tác phẩm vai trò vị trí của từng đoạn

Người lái đò sông đà đoạn thơ thể hiện một con sông đà trữ tình hình dáng ‘’ con song đà tuôn dài …..nương xuân dáng ve sông đà hiện lên mềm mại đén không gì sánh nồi , vẻ đẹp hội tụ của tất cả những gì tinh tuý cảu đất trời mầu đỏ của hoa gạo màu trắng của hoa ban .Hình ảnh dòng song hiện lên như một người phụ nữ kiều diễm phúc hậu gắn với vẻ đẹp văn hoá phong phú của một miền đất nước,màu sắc màu xuân xanh ngọc bích …..làm chủ

đep như bức tranh lụa lãng mạn trẻ trung,biểu hiện sự gắn bó thiết tha với miền đất nước qua màu sắc

-t/y song song với niềm tự hào về đất nước,song song với tinh thần dân tộc rất cao.

+vẻ đẹp gợi cảm khác nhau:

-tĩnh lặng:hình ảnh dòng sông êm đềm,mênh mang.

:   -thơ mộng:

– gợi c/s tây bắc hứa hẹn đầy triển vọng,tiềm năng-thơ mộng như btranh cổ điển

-t/c yêu mến gần gũi với quê hương đnc

+gắn với bề sâu vhóa:

-gắn với những huyền thoại dân gian -như 1 người bạn thân từ lâu

Nhận xét 1: sông Đà trữ tình,gợi cảm và thơ mộng,sông Đà hiện lên qua liên tưởng,cảm nhận được vẻ đẹp phong phú ,tiềm ẩn.

Đặc sắc nghệ thuật: – cách đặt câu văn mang dáng dấp mềm mại,trải dài như chính dòng nước,hình ảnh thơ mộng,êm đềm , tạo không khí mơ màng,gây ấn tượng về thế giới kì ảo

Đáp Án môn Văn khối C Đại học Năm 2010

Đáp án môn Văn khối D Đại học năm 2010

I. Phần chung

Câu I:

Tìm hiểu chung về tác phẩm
1.Xuất xứ:
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí(1962)
Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được Kim Lân viết ngay sau cách mạng tháng Tám 1945. Truyện được khơi nguồn cảm xúc từ nạn đói khiến hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.

2.Tình huống đặc sắc của truyện Vợ nhặt:
-Tràng là nhân vật có ngoại hình xấu, còn dở người. Lời ăn tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như chính ngoại hình của anh ta. Gia cảnh Tràng rất ái ngại. Nguy cơ ế vợ đã rõ. Đã vậy lại gặp năm đói khủng khiếp, cái chết luôn đeo bám. Trong lúc không một ai nghĩ đến chuyện vợ con ( kể cả Tràng), thì anh ta lại đột nhiên có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng “nhặt được vợ” là nhặt thêm một miệng ăn, là nhặt thêm tai học cho mình, đẩy mình gần hơn với cái chết. Vì vậy, việc Tràng có vợ là một tình huống éo le, là một nghịch cảnh vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt.
– Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên cùng bàn tán, phán đoán rồi cùng nghĩ “ biết có nuôi nỏi nhau sống qua được cái thì này không”, cùng nín lặng.
– Bà cụ tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng hiểu gì, rồi cúi đầu nín lặng với nỗi lo rất chung mà mà cũng rất riêng “ Biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”.
– Bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình. Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ. Thậm chí sáng hôm sau, Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.
=> Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí.

3.Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.
Giá trị hiện thực:
– Tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.
– Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.
– Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả e thẹn.
Giá trị nhân đạo:
– Đề cao tình người, lòng nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc.
– Đặc biệt, sự cưu mang đùm bọc của những con người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái chết.
Giá trị nghệ thuật:
Tình huống truyện khiến diễn biến phát triển dễ dàng và làm nổi bật được những cảnh

đời, những thân phận đồng thời nổi bật chủ đề tư tưởng tỏc phẩm.

4. K ết lu ận: Truyện qua việc xây dựng tình huống đặc biệt-Tràng nhặt được vợ trong cơn đói kém đã thể hiện tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay bên bờ vực thẳm của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao hạnh phúc, tổ ấm gia đình.

Câu II: (tham khảo)

Khái niệm:

– Đạo đức là toàn bộ các quan niệm về thiện ác lương tâm danh dự về trách nhiệm long tự trọng, công bằng hạnh phúc và những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với ngừơi, cá nhân với xã hội

– Đạo đức giả: Theo tôi đạo đức giả là thói nhằm hướng tới cái ác một cách trơ trẽn, một cách vô trách nhiệm nguỵ trang bằng bằng một lớp vỏ đạo đức để đánh lừa người khác.

Sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và đời sống

– Thói đạo đức giả có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chốn. Trong cơ quan, có những người làm việc thì qua loa tắc trách, trong lòng đầy thói ghen ghét đố kị, luôn âm mưu hãm hại người này người khác để rắp tâm thực hiện ý đồ cá nhân nhưng lại luôn mang một bộ mặt hiền nhân quân tử. Trong mối quan hệ gia đình, bạn bè, làng xóm là những mối quan hệ thân tình, trong trẻo mà nhiều khi cũng bị thói đạo đức giả len vào.

– Thói đạo đức giả rất khó bị phát giác. Người có tính nóng nảy, thô thiển hoặc có thói ích kỷ… rất dễ bị người đời chỉ mặt đặt tên. Nhưng buồn thay, thói đạo đức giả lại vẫn thường chung sống với cộng đồng một cách… vui vẻ. Con người dễ bị thói xấu này dối lừa là bởi cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của nó. Với vẻ bề ngoài, thói đạo đức giả cũng phô diễn vẻ đẹp của nhân cách, của luân thường đạo lý. Vì vậy dễ chiếm được sự đồng cảm của số đông. Điều khác biệt tuyệt đối là đạo đức nhằm hướng thiện còn thói đạo đức giả thực hành cái ác.

– Thói đạo đức giả là bạn đồng hành với tâm lý cả tin. Ở đâu có sự cả tin thì ở đó thói đạo đức giả còn đất sống.Đạo đức XHCN hướng con người tới tinh thần cao cả của tâm hồn, văn hóa. Bởi vậy, trong cuộc sống luôn đòi hỏi sự rèn luyện. Cảnh giác và tẩy trừ thói đạo đức giả là điều vô cùng cần thiết, trước hết là sự cảnh giác với chính bản thân mình.

Tr ích Báo Văn nghệ, số 13

II. Ph ần ri êng:

C âu III.a

1. T ác gi ả:

– Tiểu sử nhà thơ Thanh Thảo

– Xu h ư ớng ngh ệ th u ật khi l àm th ơ: lời thơ có tính tượng trưng siêu thực, gợi ra những liên tưởng đa chiều, đa nghĩa ở bạn đọc qua một hệ thống thi ảnh và ngôn từ mới mẻ

2. Bài thơ:

– sáng tác Quân khu Năm-Đà Nẵng năm 1979, được công chúng biết đến lần đầu vào năm 1985 khi tập thơ “Khối vuông ru-bích” ra đời

– bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo

3. Thân bài:
Để hiểu bài thơ trước hết ta phải hiểu về nhân vật Phi-đe-ri-co Gar-xi-a Lor-ca (1898-1936). Ông là một tài năng sáng chói của văn học Tây Ban Nha hiện đại, được xem là thần đồng có năng khiếu thiên bẩm về thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu, … Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật năm 1919, Lor-ca lên thủ đô Madrit hoạt động nghệ thuật, trong bối cảnh đất nước Tây Ban Nha bị bao trùm bởi bầu không khí ngột ngạt của chế độ cai trị độc tài Pri-nô-đê Ri-vê-ra. Lor-ca nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế, đòi quyền sống chính đáng, vừa khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. Vì thế, năm 1936, chế độ phản động thân phát xít đã thủ tiêu Lor-ca. Từ đó, tên tuổi Lor-ca đã trở thành một biểu tượng, một ngọn cờ tập hợp các nhà văn hoá Tây Ban Nha và thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ văn hoá dân tộc và văn minh nhân loại.

Với nhà thơ Thanh Thảo, ông đã mang trong ba lô ra chiến trường những bài thơ của Lor-ca, qua bản dịch của Hoàng Hưng, chép trong sổ tay như ông tâm sự “Thực ra Lor-ca đã sống trong tôi từ những năm 1969-1970 qua bản dịch chép tay mà chúng tôi truyền cho nhau… Và tôi đã viết “Đàn ghi ta của Lor-ca” trong cái ngày rầu rầu của năm 1979 ấy. Bài thơ được viết rất nhanh và hầu như không sửa chữa gì thêm” (Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3/2009). Thanh Thảo nói thêm: “tôi viết bài thơ trong trạng thái không nghĩ ngợi gì, một trạng thái mà vô thức chiếm lĩnh tôi trọn vẹn”. Điều này chứng tỏ Lor-ca đã ám ảnh tâm thức của Thanh Thảo trong một thời gian dài, đến ngưỡng cảm hứng, thì tự nhiên bài thơ đã ngân vang như một khúc giao hưởng trầm buồn với phần đệm là những giọt âm thanh luyến láy thiết tha li-la li-la li-la ngân lên từ cây ghi ta cổ điển.

những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

Mở đầu cho bài thơ của mình, Thanh Thảo giới thiệu với bạn đọc hình ảnh người nghệ sĩ Lor-ca qua những âm thanh, sắc màu, hình ảnh có tính tượng trưng, gợi liên tưởng đa chiều. Ấn tượng về những tiếng đàn bọt nước sao quá mỏng manh, như người nghệ sĩ Lor-ca chỉ với cây ghi ta và vần thơ mang theo khát vọng tự do dân chủ, một mình chiến đấu với bè lũ Phrăng-cô độc tài phát xít. Đây quả là một sự tương phản khắc nghiệt giữa “tiếng đàn bọt nước” với “áo choàng đỏ gắt”, gợi ra khung cảnh một đấu trường giữa võ sĩ với bò tót. Nhưng đây không hề là cuộc đấu để khẳng định sức mạnh của cơ bắp, mà là một cuộc chiến đấu giữa khát vọng dân chủ của công dân Lor-ca với nền chính trị độc tài, của khát vọng cách tân nghệ thuật của chàng nghệ sĩ tâm huyết tài năng Lor-ca với nền nghệ thuật cằn cỗi già nua. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng nhận ra đây là cuộc đấu không cân sức, Lor-ca đang rất đơn độc trên hành trình lí tưởng gian nan, soi bóng lẻ loi giữa con đường đời đầy nguy hiểm mà chỉ có cây đàn, tiếng hát hộ thân.

Trong cuộc đấu khốc liệt này, Lor-ca luôn bị ám ảnh về cái chết, nhưng không ngờ nó lại đến với ông quá sớm, đến ở cái tuổi ba tám, tuổi con người đang vào độ phát tiết tinh hoa! “Con chim hoạ mi Tây Ban Nha” không còn lên tiếng hót. Thanh Thảo đã cất lên lời thơ đầy xót tiếc ngậm ngùi:

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

Lời thơ vang lên là một chuỗi tự sự, nhưng cấu trúc lại đứt đoạn như để nhằm diễn tả cuộc đời Lor-ca “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”. Hình ảnh thơ tả thực “áo choàng bê bết đỏ” đã phản ánh hiện thực phũ phàng, tàn khốc đổ xuống đời Lor-ca. Cái chết bi thảm của Lor-ca là một sự kiện chính trị lớn ở Tây Ban Nha. Nó tạo ra một hiệu ứng dây chuyền, được Thanh Thảo diễn tả theo lối tượng trưng độc đáo:

tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy

Lá bùa hộ mệnh rồi cũng đến lúc không cần nữa, trái tim của bất cứ ai rồi cũng đến lúc bất chợt lặng yên, chỉ khác nhau là nó đến sớm hay muộn đối với mỗi cuộc đời. Riêng Lor-ca, dù nhịp tim của nhà thơ không còn đập nữa, nhưng dư ba con sóng thơ cùng với giai điệu tiếng đàn ghi ta li-la li-la li-la tha thiết mang theo khát vọng tự do và cách tân nghệ thuật của ông, tin rằng nó sẽ được cộng hưởng lan toả trong không – thời gian, neo đậu lâu dài trong tình cảm mến mộ của công chúng yêu nghệ thuật và trân trọng tự .

(Theo Nguyễn Tống -GV Trường Quốc Học Huế )

C âu III.b

Ý ngh ĩa b át ch áo h ánh c ủa Th ị N ở:

– thoát khỏi trận ốm đang hoành hành và  là liều thuốc giải độc cho nhưng quãng đời tội lỗi của Chí Phèo ngày xưa. Bát cháo đầy tình yêu thương của Thị đã giúp Chí lột đi vỏ quỷ để trở lại làm người. Tuy nhiên cái ngọt của bát cháo hành cũng làm tăng thêm bi kịch mồ côi của Chí Phèo.

– Hương vị bát cháo hành cũng là hương vị của tình yêu Thị Nở

Vì vậy, bát cháo hành của Thị chất chứa tình yêu thương chân thành của mụ đã biến Chí thành một con người khác hẳn, biến Chí từ một thằng lưu manh chuyên rạch mặt ăn vạ thành một người dân lương thiện, hiền lành với biết bao những cảm xúc, nghĩ suy của một con người.

Đáp Án môn Văn khối C Đại học Năm 2010

24 lưu ý khi làm bài trắc nghiệm thi Đại học

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Bài thi trắc nghiệm kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2010 sẽ có từ 50 – 80 câu, được làm trong 90 phút. Ngày 11/6, ông Trần Văn Nghĩa, Cục phó Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) đã giới thiệu 24 lưu ý đặc biệt với thí sinh khi làm bài. Dưới đây là nội dung tư vấn

1. Thí sinh thi các môn trắc nghiệm tại phòng thi mà mình thi môn tự luận. Số báo danh lấy theo Giấy báo dự thi.

2. Thí sinh cần mang bút mực (hoặc bút bi), bút chì đen, gọt bút chì, tẩy vào phòng thi; nên mang theo đồng hồ để theo dõi giờ làm bài.

3. Trong phòng thi, mỗi thí sinh được phát 1 tờ phiếu trả lời trắc nghiệm và 1 tờ giấy nháp đã có chữ ký của cán bộ coi thi. Thí sinh cần giữ cho tờ phiếu phẳng, không bị rách, gập, nhàu, mép giấy bị quăn, bởi đây là bài làm của thí sinh, được chấm bằng máy.

4. Thí sinh dùng bút mực hoặc bút bi điền đầy đủ vào các mục để trống (từ số 1 đến số 9); chưa ghi mã đề thi (mục 10). Lưu ý, ghi số báo danh với đầy đủ 6 chữ số (kể cả chữ số 0 ở đầu số báo danh, nếu có) vào các ô vuông nhỏ trên đầu các cột của khung số báo danh (mục số 9 trên phiếu trả lời).

Sau đó, dùng bút chì, lần lượt theo từng cột tô kín ô có chữ số tương ứng với chữ số ở đầu cột.

5. Khi nhận đề thi, thí sinh phải để đề thi dưới tờ phiếu trả lời; không được xem đề thi khi cán bộ coi thi chưa cho phép.

6. Khi nhận được đề thi và cán bộ coi thi cho phép, thí sinh bắt đầu xem đề thi và đặc biệt nhớ 2 lưu ý sau:

a) Phải kiểm tra đề thi để đảm bảo: đề thi có đủ số lượng câu trắc nghiệm như đã ghi trong đề; nội dung đề được in rõ ràng, không thiếu chữ, mất nét; tất cả các trang của đề thi đều ghi cùng một mã đề thi. Nếu có những chi tiết bất thường trong đề thi, hoặc có 2 đề thi trở lên, thí sinh phải báo ngay cho cán bộ coi thi để xử lý.

b) Ghi tên và số báo danh của mình vào đề thi. Mỗi đề thi có một mã số, thí sinh xem mã đề thi (in trên đầu đề thi) và dùng bút mực hoặc bút bi ghi ngay 3 chữ số của mã đề thi vào 3 ô vuông nhỏ ở đầu các cột của khung mã đề thi (mục số 10 trên phiếu trả lời trắc nghiệm); sau đó dùng bút chì lần lượt theo từng cột tô kín ô có chữ số tương ứng với chữ số ở đầu mỗi cột.

7. Nếu phát hiện đề thi bị thiếu trang, thí sinh đề nghị cán bộ coi thi cho đổi bằng đề thi dự phòng có mã đề thi tương ứng (hoặc mã đề thi khác với mã đề thi của 2 thí sinh ngồi hai bên).

8. Theo yêu cầu của cán bộ coi thi, thí sinh tự ghi mã đề thi của mình vào 2 phiếu thu bài thi. Lúc này (chưa nộp bài) thí sinh tuyệt đối không ký tên vào phiếu thu bài thi.

9. Thời gian làm bài thi trắc nghiệm tuyển sinh vào đại học, cao đẳng là 90 phút.

10. Hai thí sinh ngồi cạnh nhau có cùng mã đề thi thì phải di chuyển chỗ ngồi.

24 lưu ý  khi làm bài trắc nghiệm thi Đại học, Giáo dục - du học, giáo dục, tuyển  sinh, đại học, cao đẳng, trắc nghiệm, thí sinh

Mẫu đề thi trắc nghiệm do Bộ GD – ĐT giới thiệu.

11. Chỉ có phiếu trả lời trắc nghiệm mới được coi là bài làm của thí sinh; bài làm phải có 2 chữ ký của 2 cán bộ coi thi.

12. Trên phiếu trả lời trắc nghiệm chỉ được viết một thứ mực không phải là mực đỏ và tô chì đen ở ô trả lời; không được tô bất cứ ô nào trên phiếu trả lời trắc nghiệm bằng bút mực, bút bi.

13. Khi tô các ô bằng bút chì, phải tô đậm và lấp kín diện tích cả ô; không gạch chéo hoặc chỉ đánh dấu vào ô được chọn; ứng với mỗi câu trắc nghiệm chỉ được tô 1 ô trả lời. Trong trường hợp tô nhầm hoặc muốn thay đổi câu trả lời, thí sinh dùng tẩy tẩy thật sạch chì ở ô cũ, rồi tô kín ô khác mà mình mới lựa chọn.

14. Ngoài 10 mục cần ghi trên phiếu bằng bút mực và các câu trả lời tô chì, thí sinh tuyệt đối không được viết gì thêm hoặc để lại dấu hiệu riêng trên phiếu trả lời. Bài có dấu riêng sẽ bị coi là phạm quy và không được chấm điểm.

15. Khi làm từng câu trắc nghiệm, thí sinh cần đọc kỹ nội dung câu trắc nghiệm, phải đọc trọn vẹn mỗi câu trắc nghiệm, cả phần dẫn và bốn lựa chọn A, B, C, D để chọn phương án đúng (A hoặc B, C, D) và dùng bút chì tô kín ô tương ứng với chữ cái A hoặc B, C, D trong phiếu.

Chẳng hạn thí sinh đang làm câu 5, chọn C là phương án đúng thì thí sinh tô đen ô có chữ C trên dòng có số 5 của phiếu.

16. Làm đến câu trắc nghiệm nào thí sinh dùng bút chì tô ngay ô trả lời trên phiếu ứng với câu trắc nghiệm đó. Tránh làm toàn bộ các câu của đề thi trên giấy nháp hoặc trên đề thi rồi mới tô vào phiếu vì dễ bị thiếu thời gian.

17. Tránh việc chỉ trả lời trên đề thi hoặc giấy nháp mà quên tô trên phiếu trả lời. Tránh việc tô 2 ô trở lên cho một câu trắc nghiệm vì trong trường hợp này, máy sẽ không chấm và câu đó không có điểm.

18. Số thứ tự câu trả lời mà thí sinh làm trên phiếu trả lời phải trùng với số thứ tự câu trắc nghiệm trong đề thi. Tránh trường hợp trả lời câu trắc nghiệm này nhưng tô vào hàng của câu khác trên phiếu trả lời trắc nghiệm.

19. Thí sinh không ra ngoài trong suốt thời gian làm bài. Trong trường hợp quá cần thiết, phải báo cho cán bộ coi thi trong phòng thi (cán bộ coi thi trong phòng thi có trách nhiệm báo cho cán bộ coi thi ngoài phòng thi hoặc thành viên của Ban coi thi biết); không được mang đề thi và phiếu trả lời trắc nghiệm ra ngoài phòng thi.

24 lưu ý khi làm bài trắc nghiệm thi Đại  học, Giáo dục - du học, giáo dục, tuyển sinh, đại học, cao đẳng, trắc  nghiệm, thí sinh

Xem lời giải tham khảo trên báo sau giờ thi.

20. Trước khi hết giờ làm bài 15 phút, được cán bộ coi thi thông báo, một lần nữa, thí sinh kiểm tra việc ghi Số báo danh và Mã đề thi trên phiếu trả lời trắc nghiệm.

21. Thí sinh làm xong bài phải ngồi tại chỗ, không nộp bài trắc nghiệm trước khi hết giờ làm bài.

22. Khi hết giờ làm bài thi trắc nghiệm, có lệnh thu bài, thí sinh phải ngừng làm bài, bỏ bút xuống; đặt phiếu trả lời trắc nghiệm lên trên đề thi; chờ nộp phiếu trả lời theo hướng dẫn của cán bộ coi thi. Thí sinh không làm được bài vẫn phải nộp phiếu. Khi nộp, phải ký tên vào 2 phiếu thu bài thi.

23. Thí sinh chỉ được rời khỏi chỗ sau khi cán bộ coi thi đã kiểm đủ số phiếu trả lời trắc nghiệm của cả phòng thi và cho phép thí sinh ra về.

24. Thí sinh được đề nghị phúc khảo bài thi trắc nghiệm của mình sau khi đã làm các thủ tục theo Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

24 lưu ý khi làm bài trắc nghiệm thi Đại học

Ba bước làm bài thi Toán ĐH không ân hận

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Dưới đây là những gợi ý của thầy giáo Trần Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển tài năng về cách làm bài môn Toán dễ “ăn” điểm.

Thí sinh cần phân biệt, kinh nghiệm thi cử khác với cách học ôn. Bởi, mục đích của thi cử là làm thế nào để thể hiện hết công suất những kiến thức đã tích lũy đạt hiệu quả cao nhất. Tránh tình trạng kiến thức tích lũy thì nhiều nhưng phần thể hiện bị hạn chế hoặc có nhiều sai sót, đến khi bước ra khỏi phòng thi lại tiếc nuối.

Vậy cách làm bài thi trong phòng thi thế nào để hết giờ làm bài không ân hận?

Bước 1, khi tiếp cận đề thi thì nên đọc lướt qua đề một lượt (khoảng 3 phút) để có cảm nhận đề thi. Sau đó đọc quay lại chậm hơn và đánh dấu câu theo trình trình tự và lên sơ đồ chiến lược để có xử lý phù hợp với thời gian làm bài. Trong đó, câu quen biết, câu dễ có thể làm được ngay, không nên lao vào những câu khó rồi bị tắc dễ mất phương hướng và rơi vào trạng thái mất năng lượng và không tự tin vào bản thân. Rồi khi quay sang bài khác lại bị tắc, đến khi quay lại câu dễ cũng dễ nhầm lẫn….

Bước 2, sắp xếp theo trình tự tối ưu: nên làm nhưng câu dễ (loại 1) trước, rồi mới sang câu loại 2 vẫn dạng quen nhưng đòi hỏi phải biến đổi kỹ năng – thêm vào một số kỹ năng tính toán, loại 3 thường là những câu hỏi có mức độ suy luận tích hợp nhiều kiến thức khác nhau. Loại 4 là những câu rất khó.

Bước 3, là làm bài thi theo trình tự đã sắp xếp. Thậm chí trong nhiều trường hợp có thể buông câu loại 4 (câu rất khó). Với những thí sinh giỏi thì có thể thi trên thang 10 điểm để phấn đấu làm thủ khoa. Còn HS trung bình thì thi co lại (tùy theo năng lực), dựa vào phân loại đề thì có thể chọn thang điểm 10 hay 9 hoặc 8 – thậm chí là thang 6,7 điểm.

Điều thí sinh cần biết, điểm sàn ĐH mấy năm gần đây ấn định trong khoảng 14-15 điểm ba môn thì phấn đấu đạt 6-7 điểm/ môn là có thể đỗ một trường ĐH nào đó. Do vậy, với những thí sinh có sức học trung bình nên lượng sức để làm bài thi đến đâu chắc đến đó để đạt hoăc vượt “ngưỡng” điểm sàn ĐH theo quy định của Bộ GD-ĐT.

Tuy nhiên, trong thi cử không thể chủ quan bất cứ điều gì. Có nhiều trường hợp học sinh giỏi kiểu a-ma-tơ hay thích thể hiện là mình hoàn thành được bài thi trong thời gian sớm nhất nên dễ mắc lỗi cẩu thả – làm bài thi không theo chiến lược. Cũng có những thí sinh ngay khi nhận đề chủ quan và lao vào làm câu khó trước, đến khi “ngốn” hết nhiều thời gian làm bài thì cuống dễ mất điểm…

Ở môn thi Toán, thí sinh cần sắp xếp các câu từ dễ đến khó theo trình tự nêu trên và lượng sức để chọn “gói” điểm “đạt thủ khoa” hoặc “đậu ĐH”… Với những thí sinh làm bài thi tùy tiện thì rất ít bài thi đạt điểm từ 9,5-10 điểm mà chỉ đạt 7-8 điểm vì không sai sót ở khâu này sẽ sai câu khác.

Thường người ra đề thi cũng đã sắp xếp theo trình tự khoa học từ dễ cơ bản – nâng cao – khó. Vậy nguyên lý làm bài cũng nên được sắp xếp khoa học để không bị mất năng lượng.

Để tránh bài làm tưởng được hết nhưng lại bị “rơi” 0,25 – 0,5 điểm thì kỹ năng trình bầy bài thi rất quan trọng. Đồng thời, phải xem barem điểm theo cấu trúc nào thì làm bài theo cấu trúc đó.

Điều đó cũng chứng minh một điều, các HS giỏi có thể làm được các câu khó nhưng bị rơi vãi ở những câu dễ sẽ bị trừ điểm lỗi trình bầy. Có những bài thi đúng hết đáp số nhưng bị trừ…

Việc phân loại các câu trong đề thi từ dễ đến khó để định ra một chiến lược là đạt điểm 7, 8 – để tranh bị phân tán năng lượng một cách không cần thiết. HS giỏi để nhắc là không được tinh vi vì đề thi ĐH là đề cơ bản chưa phải là đề thi khó.

Một điểm cần lưu ý trong thi ĐH là nếu chúng ta làm câu dễ mà bị sai hoặc không làm được thì khả năng trượt ĐH là rất lớn. Vì nếu có 500.000 người thi mà câu dễ không làm được thì khả năng sẽ thua 490.000 người (họ làm được), còn nếu câu khó không làm được thì khả năng chỉ thua 5.000 người – thì sẽ không là vấn đề?.

Mùa thi đến, sức ép tâm lý thường ở nhóm HS có khát vọng thi đỗ vào trường ĐH top 1. Lời khuyên cho HS cơ sức học trung bình có khát vọng vào ĐH thì không quá lo lắng vì chỉ cần phấn đấu làm thế nào bài thi đạt điểm sàn (tối đa 15 điểm) – thì không cần thiết phải áp lực vào trường lớn.

Ba bước làm bài thi Toán ĐH không ân hận

Bài thi trắc nghiệm được chấm thi chi tiết tới 0,25 điểm

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Thông tin từ Bộ GD-ĐT cho biết, chấm điểm thi trắc nghiệm được tiến hành quy đổi bằng máy tính từ thang điểm 100 sang thang điểm 10 (điểm lẻ đến 0,25) cho từng bài thi trắc nghiệm.

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010Bài thi trắc nghiệm sẽ được kiểm dò kỹ để sửa các lỗi kỹ thuật

Lãnh đạo Cục Khảo thí & Kiểm định chất lượng cho biết: “Phần mềm chấm xác định được các lỗi làm phần riêng của thí sinh để chấm đúng theo Quy chế “thí sinh chỉ được phép làm một trong hai phần riêng, nếu làm cả hai phần riêng sẽ không được chấm phần riêng (chỉ chấm phần chung)”.

Phiếu trả lời trắc nghiệm được giữ nguyên không rọc phách, do đó quá trình chấm thi trắc nghiệm phải bố trí bộ phận giám sát trực tiếp và liên tục từ khi mở niêm phong túi đựng phiếu trả lời trắc nghiệm đến khi kết thúc chấm thi. Các thành viên tham gia tổ xử lý bài thi trắc nghiệm tuyệt đối không được mang theo bút chì, tẩy vào khu vực xử lý bài thi và không được sửa chữa, thêm bớt vào phiếu trả lời trắc nghiệm của thí sinh với bất kỳ lí do gì.

Vị lãnh đạo này cũng cho biết thêm, sau khi quét bài thi phải tiến hành kiểm dò để đối chiếu hết lỗi logic và sửa các lỗi kĩ thuật (nếu có) ở quá trình quét. Sử dụng chức năng lọc của phần mềm lọc ra trong tệp dữ liệu các bài có nhiều câu bỏ trắng (không tô) và những câu tô đúp để kiểm dò; ngưỡng kiểm dò không được thấp hơn 2 câu không tô và 1 câu tô đúp.

Đối với những môn đề thi có hai phần (phần chung và phần riêng), phải sử dụng chức năng của phần mềm chấm thi lọc ra tất cả các bài thi sinh làm cả hai phần riêng và kiểm dò thật kỹ để đảm bảo quyền lợi cho thí sinh.

Bài thi trắc nghiệm được chấm thi chi tiết tới 0,25 điểm

Điểm trung bình môn Sử, Địa tốt nghiệp THPT không cao

Đáp án đề thi đại học cao đẳng, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Mặc dù công tác chấm thi mới bắt đầu từ ngày 8/6, nhưng theo nhận định ban đầu từ các Sở GD-ĐT, điểm thi môn địa không khả quan như dự đoán.

Năm nay, tỉnh Bắc Ninh chấm bài thi tốt nghiệp cho Thái Nguyên. Theo bà Nguyễn Thị Hương Trang, Phó giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Bắc Ninh, Sở đã chấm được một phần bốn số bài thi. Đáp án của Bộ khá chi tiết nên không có vướng mắc trong quá trình thống nhất biểu điểm chấm, tốc độ chấm cũng khá nhanh.

Cũng theo bà Trang, kết quả ban đầu cho thấy tỷ lệ thí sinh đạt điểm trên trung bình không cao, nhất là với các môn sử và địa. Kết quả sơ bộ qua hai ngày chấm thi cho thấy, ỏ môn văn, tỷ lệ thí sinh đạt điểm trên trung bình khoảng 68%, môn địa thấp hơn, chỉ khoảng trên 50%. Môn sử của hệ giáo dục thường xuyên còn thấp hơn nữa, chỉ khoảng 30%. “Do rút bài bất kỳ nên có thể đây là các bài thi của khu vực miền núi, điều kiện học tập của các em khó khăn nên điểm chưa cao. Đây cũng chỉ là một số lượng nhỏ của tổng số bài thi nên chưa kết luận được”, bà Trang nói.

Điểm thi môn sử không cao cũng là nhận định của ông Trịnh Đào Chiến, Phó giám đốc Sở GD-ĐT Gia Lai. Theo kết quả ban đầu, dưới 50% thí sinh đạt điểm trên trung bình môn này. Theo ông Chiến, với đề địa lý năm nay, thí sinh phải vận dụng Atlat địa lý nhiều trong quá trình làm bài là một lợi thế. Hơn nữa, Gia Lai chấm cho Đà Nẵng, là tỉnh có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp hàng năm rất cao, điều kiện học tập cũng tốt hơn nhiều vùng khác, nhưng không hiểu vì lý do gì, điểm thi lại không cao. Dự kiến, ngày 16/6, Gia Lai sẽ chấm xong và 17/6 sẽ gửi kết quả thi về cho Đà Nẵng.

Theo quy định của Bộ GD-ĐT, ngày 18/6 là hạn chót để các trường công bố kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông cho thí sinh. Được biết, 64 đoàn thanh tra với 720 thanh tra viên đã bắt tay vào việc kiểm tra công tác chấm thi và phúc khảo bài thi tốt nghiệp THPT năm 2010 ở các địa phương. Mỗi tỉnh, thành có trung bình 11 – 15 thanh tra. Riêng các tỉnh đông học sinh như Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hóa, TP HCM đều có 15 cán bộ đến làm công tác thanh tra chấm thi.

Điểm trung bình môn Sử, Địa tốt nghiệp THPT không cao

Chấm thi tốt nghiệp THPT: Địa lý có nhiều điểm cao

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Kết quả chấm thi những bài đầu tiên thuộc môn xã hội cho thấy môn Địa lý có ít điểm dưới trung bình và có nhiều điểm cao hơn so với môn Văn và Lịch sử.

Hội đồng chấm thi của tỉnh Quảng Ngãi, tại trường THPT Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi), chấm chung 15 bài đối với các môn thi tự luận gồm Toán, Văn, Sử và Địa.

15 bài chấm chung môn Văn đã hoàn tất. Kết quả, 5 bài dưới điểm trung bình, 10 bài từ điểm 5 đến điểm 8. Có những bài diễn đạt ngây ngô, vụng về, dẫn chứng quá riêng tư. Ý thứ tư trong câu 1, hỏi về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Sô- lô- khốp, có đến 13 bài của thí sinh trong 15 bài, không thể hiện được. Nhiều giám khảo cho rằng, câu 1 ra hơi bất ngờ nên học sinh và giáo viên có phần chủ quan, hướng dẫn ôn tập không kỹ.

Về cơ bản các giám khảo đều thống nhất với đáp án và biểu điểm chấm của Bộ GD &ĐT. Tuy nhiên, theo các giám khảo, đáp án dành cho câu 2, nghị luận xã hội, bàn về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay còn chung chung, chưa phân biệt được tình yêu thương của tuổi trẻ có gì khác biệt so với các đối tượng khác.

Kết quả 15 bài chấm chung môn Lịch sử cho thấy, đối với câu 2b, hầu hết các bài chỉ được nửa số điểm. Trước đó, nhiều ý kiến cho rằng, câu 2b ở phần chung, không nằm trong Tài liệu Kiến thức chuẩn của NXB Giáo dục, cho nên nhiều em không làm được bài. Còn Bộ GD&ĐT thì khẳng định, câu này có trong sách giáo khoa, chuẩn kiến thức chỉ là tài liệu.

Thầy Lê Văn Linh, giám khảo chấm Sử, cho biết: “Ở câu này, có nhiều em viết sai địa danh Nhà máy điện Yên Phụ, thành Nhà máy điện Biên Phủ. Có lẽ các em nhầm hoặc “copy” sai thành một dây”.

Với môn Địa lý, qua 15 bài chấm chung, giám khảo Nguyễn Đắc Vương nhận xét: Phần kỹ năng, thực hành vẽ biểu đồ của các em chưa tốt, còn khá lúng túng, cẩu thả. Đề Địa năm nay ra dễ thở hơn năm ngoái nhiều. 15 bài chấm chung, chỉ có 1 bài 3,5 điểm, còn đều từ 5 đến 7 điểm. Tỉ lệ điểm Địa năm nay sẽ cao”.

Hội đồng thi này dự kiến hoàn thành chấm các môn tự luận vào ngày 14-6.

Lần này, tỉnh Quảng Ngãi chấm trên 20.000 bài thi thuộc hệ THPT và giáo dục thường xuyên của tỉnh Quảng Nam, với số giám khảo được huy động là 352 người. Riêng môn Địa lý, gần như huy động hết số giáo viên giảng dạy môn này ở bậc THPT trong toàn tỉnh tham gia chấm thi.

Chấm thi tốt nghiệp THPT: Địa lý có nhiều điểm cao

Đề thi ĐH, CĐ không ra vào phần đọc thêm

Đề thi đáp án đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010

Theo lãnh đạo Cục Khảo thí & Kiểm định chất lượng Bộ GD-ĐT, đề thi ĐH, CĐ 2010 sẽ phân loại được trình độ học lực của thí sinh và không ra vào phần đã được giảm tải và phần đọc thêm

Theo vị lãnh đạo này, đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ kiểm tra những kiến thức cơ bản, khả năng vận dụng và kỹ năng thực hành của thí sinh trong phạm vi chương trình trung học hiện hành, chủ yếu là chương trình lớp 12, phù hợp với quy định về điều chỉnh nội dung học tập cấp trung học.

Nội dung đề thi phải bảo đảm tính khoa học, chính xác, chặt chẽ. Lời văn, câu chữ phải rõ ràng, không có sai sót. Bám sát chương trình trung học (theo từng bộ môn).

Đề thi có nhiều câu để kiểm tra bao quát chương trình trung học, chủ yếu là chương trình lớp 12, bảo đảm cân đối giữa các phần trong chương trình, đúng các quy định về điều chỉnh nội dung môn học.

Đặc biệt, Bộ GD-ĐT yêu cầu ban ra đề thi không được phép có sai sót về nội dung đề thi. Không ra đề thi ngoài chương trình và vượt chương trình trung học. Không ra đề vào những phần đã được giảm tải, cắt bỏ, hoặc đã chuyển sang phần đọc thêm (phần chữ nhỏ, các phần đã ghi trong văn bản quy định về điều chỉnh chương trình). Không ra đề thi vào những phần, những ý còn đang tranh luận về mặt khoa học hoặc có nhiều cách giải. Không ra đề thi quá khó, quá phức tạp.

Thí sinh lưu ý, thí sinh dự thi ĐH theo đề chung của Bộ GD-ĐT, có kết quả thi từ điểm sàn ĐH trở lên, nếu không trúng tuyển đợt 1, thì nộp hồ sơ đăng ký dự thi (đợt 2 hoặc đợt 3) qua đường bưu điện chuyển phát nhanh hoặc chuyển phát ưu tiên hoặc nộp trực tiếp tại trường vào ngành cùng khối thi, trong vùng tuyển quy định của một trường ĐH, CĐ còn chỉ tiêu xét tuyển.

Thí sinh đã trúng tuyển ĐH, nếu có nguyện vọng học tại trường CĐ địa phương cùng khối thi và trong vùng tuyển, phải làm đơn kèm giấy báo trúng tuyển gửi trường CĐ có nguyện vọng học để trường xét tuyển.

Thí sinh dự thi ĐH theo đề thi chung chỉ được tham gia xét tuyển vào các trường ĐH theo đề thi chung chỉ được tham gia xét tuyển vào các trường ĐH khi có tổng điểm 3 môn thi từ điểm sàn ĐH trở lên; vào các trường CĐ khi có tổng điểm 3 môn thi từ điểm sàn CĐ trở lên hoặc hệ CĐ của trường ĐH hoặc trường CĐ thuộc các trường ĐH khi có tổng điểm 3 môn thi từ điểm sàn CĐ trở lên (không có môn nào bị điểm 0). Các trường quy định mức điểm nhận hồ sơ xét tuyển không thấp hơn điểm sàn.

Thí sinh dự thi CĐ theo đề thi chung, chỉ được tham gia xét tuyển vào các trường CĐ (hoặc hệ CĐ của trường ĐH; trường CĐ thuộc các ĐH) khi có tổng điểm 3 môn thi từ mức điểm tối thiểu theo quy định trở lên (không có môn nào bị điểm 0). Các trường CĐ quy định mức điểm nhận hồ sơ xét tuyển không thấp hơn mức điểm tối thiểu theo quy định.

Đề thi ĐH, CĐ không ra vào phần đọc thêm