Đừng quá lo tỉ lệ “chọi” 2009 2010

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học  cao đẳng 2010
– Tỉ lệ “chọi” nhiều ngành cao ngất ngưởng, có ngành lên đến 1 “chọi” 54. Điều này có thật sự đáng lo khi cạnh tranh một suất vào ĐH? Thí sinh có cần băn khoăn khi lỡ đăng ký dự thi vào ngành có tỉ lệ “chọi” cao hay vui mừng khi vào ngành có tỉ lệ “chọi” thấp?

Trưởng phòng đào tạo một trường ĐH có đông thí sinh đăng ký dự thi năm nay cho biết không muốn công bố tỉ lệ “chọi” theo ngành bởi có những ngành tỉ lệ “chọi” rất cao, có thể khiến thí sinh hoang mang trước một kỳ thi quan trọng. Bởi tỉ lệ “chọi” cao chưa hẳn điểm chuẩn sẽ cao và ngược lại.

Điều này dễ nhận thấy nhất trong điểm chuẩn năm 2009 của Trường ĐH Y dược TP.HCM. Ngành bác sĩ đa khoa có tỉ lệ “chọi” thấp nhì trường, chỉ 1/10,4 nhưng điểm chuẩn lại lên tới 25, cao nhì trường, chỉ sau ngành dược (1/19,5) cao nhất trường với 25,5 điểm. Trong khi những ngành như vật lý trị liệu (1/19,5), gây mê hồi sức (1/23), xét nghiệm (1/36) điểm chuẩn chỉ dao động từ 19,5 – 21,5. Ngành có tỉ lệ “chọi” cao nhất trường năm 2009 là điều dưỡng (1/65) nhưng điểm chuẩn chỉ ở mức 19,5.

Chỉ để tham khảo

Ở một số trường như ĐH Cần Thơ, ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM), ĐH Sư phạm TP.HCM… cũng tương tự. Năm 2009, ngành sư phạm giáo dục tiểu học có tỉ lệ “chọi” 1/23, cao nhất Trường ĐH Cần Thơ nhưng điểm chuẩn NV1 chỉ 13,5, cao hơn điểm sàn 0,5 điểm.

Tương tự, các ngành công nghệ thông tin có tỉ lệ “chọi” 1/13 nhưng điểm chuẩn chỉ 15,5, công nghệ thực phẩm 1/30 và điểm chuẩn 16, khoa học môi trường 1/27 – điểm chuẩn 16, quản trị kinh doanh 1/22 – điểm chuẩn 16.

Trong khi đó nhiều ngành có tỉ lệ “chọi” thấp như tài chính ngân hàng chỉ 1 “chọi” 4,2 nhưng điểm chuẩn lên tới 18.

Cạnh tranh chất lượng

Một thực tế là những ngành công nghệ truyền thống ở các trường ĐH Bách khoa, Khoa học tự nhiên, Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM), Sư phạm kỹ thuật TP.HCM… như công nghệ thông tin, môi trường, công nghệ sinh học, xây dựng, nhóm ngành tài chính ngân hàng, y dược dù tỉ lệ “chọi” có thấp thì điểm chuẩn cũng luôn đứng đầu trường bởi những thí sinh “sừng sỏ” mới đăng ký vào đây. Sự cạnh tranh về số lượng tuy ít nhưng cạnh tranh về chất lượng, điểm số lại rất gay gắt.

Thạc sĩ Lâm Tường Thoại – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM) – chia sẻ: tỉ lệ “chọi” không nói lên điều gì đến điểm đầu vào cả.

Theo thạc sĩ Thoại, kinh nghiệm nhiều năm làm tuyển sinh cho thấy hai ngành tài chính ngân hàng và kinh tế đối ngoại của trường luôn có điểm chuẩn cao nhất dù tỉ lệ “chọi” mỗi năm có dao động lên xuống so với các ngành khác.

Thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Cần Thơ – cho biết năm nay có sự dịch chuyển mạnh hồ sơ đăng ký dự thi sang hai ngành kinh tế môi trường và kinh tế thủy sản do năm rồi tỉ lệ “chọi” hai ngành này thấp. Tuy nhiên, dự kiến điểm chuẩn sẽ cao hơn chút đỉnh chứ không quá cao bởi thí sinh thi vào những ngành này cũng đã tự lượng sức học của mình.

Thí sinh không nên quá quan tâm đến tỉ lệ “chọi”, cái cần tham khảo là điểm chuẩn những năm trước để từ đó phấn đấu học tập đạt ngang bằng hoặc cao hơn mức điểm đó.

Những ngành nhiều cơ hội

Tuy nhiên, cũng có không ít ngành tỉ lệ “chọi” thấp, điểm chuẩn cũng thấp theo. Đây là những ngành vốn có “truyền thống” ít thí sinh trong nhiều năm liền và điểm chuẩn cũng vì thế chỉ dao động quanh điểm sàn.

Thống kê những mùa tuyển sinh gần đây cho thấy những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm, khoa học cơ bản, nhiều ngành nhóm kỹ thuật có mức điểm chuẩn chỉ bằng hoặc cao hơn điểm sàn 0,5-2 điểm. Năm 2009, các ngành khoa học cơ bản tại ĐHQG TP.HCM như khoa học vật liệu, hải dương học – khí tượng – thủy văn, địa chất (ĐH Khoa học tự nhiên) hay trắc địa, công nghệ vật liệu, vật lý kỹ thuật (ĐH Bách khoa) có điểm chuẩn chỉ 13-14 điểm.

Năm nay, chỉ một số ít ngành có tỉ lệ “chọi” tăng nhẹ, trong khi hầu hết đều giảm nên điểm chuẩn vào những ngành này cũng sẽ không có nhiều thay đổi.

Trong khi đó cũng như ở nhiều trường khác, những ngành công nghệ “hot” như môi trường, công nghệ sinh học tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên có tỉ lệ “chọi” tăng cao ngất ngưởng nên sẽ có nhiều biến động về điểm.

Trong những năm gần đây, hầu hết các trường đều khá vất vả tuyển sinh những ngành thuộc nhóm ngành nông lâm. Năm nay, trong bối cảnh hồ sơ giảm chung, lượng hồ sơ vào nhóm ngành này càng ít hơn. Ngoại trừ một số ngành nông lâm tại Trường ĐH Cần Thơ có tỉ lệ “chọi” tăng, nhưng thạc sĩ Nguyễn Vĩnh An dự báo điểm chuẩn sẽ không có nhiều thay đổi.

Ở nhóm ngành kinh tế, điểm chuẩn các ngành hệ thống thông tin quản lý và kinh tế học luôn thấp nhất trong các trường. Trong khi đó ngành quản trị luật (ĐH Luật TP.HCM) và luật dân sự (ĐH Kinh tế – luật ĐHQG TP.HCM) có tỉ lệ “chọi” chỉ 1/2.

Đừng quá lo tỉ lệ “chọi”

ĐH Cần Thơ: Tỷ lệ “chọi” cao nhất là 1/24,4

Đáp án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010 – Trường ĐH Cần Thơ vừa có thống kê số lượng hồ sơ đăng ký dự thi vào các ngành, chuyên ngành tuyển sinh 2010. Theo đó, tỷ lệ “chọi” cao nhất thuộc về ngành Hóa dược: 1/24,4. Đây là ngành mới mở trong năm 2010.

Thống kê cho thấy, tổng cộng có tất cả 80.977 hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT) vào ĐH Cần Thơ (khối A có số lượng đăng ký cao nhất). Trong đó có 63.994 hồ sơ ĐKDT vào 71 ngành, chỉ tiêu là 6.500; cơ sở 2 tại Hậu Giang có 1.680 hồ sơ, chỉ tiêu 500. Số thí sinh ĐKDT tại Trường ĐH Cần Thơ lấy điểm xét nguyện vọng 1 tại trường khác là 15.303 hồ sơ.

Qua thống kê thì ngành Quản trị kinh doanh (khối A, D1) vẫn là lựa chọn của đa số thí sinh đồng bằng sông Cửu Long với số lượng hồ sơ cao nhất 5.369; chỉ tiêu 240 cho 4 chuyên ngành: Tổng hợp, Du lịch, Marketting, Thương mại; tỷ lệ “chọi” là 1/22,4.

Khối ngành Sư phạm, thì ngành Sư phạm Tiểu học (khối A, D1) có số lượng thí sinh đăng ký cao nhất với 1.395 hồ sơ; chỉ tiêu 60; tỷ lệ “chọi” 1/23,3.

Khối C, thì 2 ngành Luật và Du lịch có số lượng đăng ký khá cao với hơn 5.000 hồ sơ (bao gồm khối D1). Trong khi đó, các ngành Sư phạm khối C như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân có số lượng đăng ký khá khiêm tốn từ 304 – 665 hồ sơ; tỷ lệ “chọi” khá thấp từ 1/4 đến 1/11.

Ngành Hóa dược (A, B) có tỷ lệ “chọi” cao nhất trong kỳ thi năm 2010 là 1/24,4 với số lượng hồ sơ ĐKDT là 1.461; chỉ tiêu 60.

Ngành có số lượng hồ sơ ĐKDT thấp nhất là Lâm sinh đồng bằng (khối B) với 63 hồ sơ; chỉ tiêu 60; tỷ lệ “chọi” 1/1,1.

Tại cơ sở 2 của Trường ĐH Cần Thơ ở Hậu Giang có 6 ngành; trong đó ngành Luật (A, C) có số lượng đăng ký cao nhất với 674 hồ sơ cho 3 chuyên ngành: Thương mại, Hành chính, Tư pháp; chỉ tiêu 160; tỷ lệ “chọi” 1/4,2.

Dự kiến, giấy báo thi sẽ được gửi đến thí sinh vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6/2010.

ĐH Cần Thơ: Tỷ lệ “chọi” cao nhất là 1/24,4

Hồ sơ đại học 2010 giảm, thí sinh “thật” tăng

Đáp Án Đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010– Trước thông tin hồ sơ đăng ký dự thi và tỷ lệ “chọi” giảm, nhiều thí sinh khấp khởi mừng thầm: cửa trường ĐH đã rộng mở hơn bao giờ hết. Thế nhưng, mọi chuyện chưa chắc đã hẳn thế. Và phải chăng mùa thi năm nay sẽ dễ thở hơn?

Chọn trường thi tập trung hơn

Thông tin từ 63 sở GD-ĐT trên cả nước cho biết lượng hồ sơ đăng ký dự thi năm nay giảm mạnh so với năm 2009. Đại diện sở có lượng hồ sơ lớn nhất cả nước, bà Tạ Song Hà, Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội cho hay: Hồ sơ đăng ký của học sinh Hà Nội năm 2010 giảm 17,2% (160.000) so với năm 2009. Tuy nhiên, về tỷ lệ hồ sơ trên một thí sinh thì lại là một tín hiệu vui cho các trường ĐH. Năm 2009, trung bình một thí sinh nộp trên 2 hồ sơ, nhưng năm 2010 giảm còn 1,9 hồ sơ/thí sinh (nếu tính riêng học sinh lớp 12 thì ở mức 1,7 hồ sơ/thí sinh). Tiếp sau Hà Nội là TPHCM cũng giảm đến 10.000 hồ sơ nhưng tình trạng một thí sinh nộp trên 2 hồ sơ không phổ biến như các năm trước.

Sau khi tính toán, trường có lượng hồ sơ luôn dẫn đầu cả nước trong những năm gần đây là Trường ĐH Cần Thơ thở phào nhẹ nhõm với việc trường sụt giảm đến 9.000 hồ sơ. Th.S Nguyễn Vĩnh An, Trưởng phòng đào tạo ĐH Cần Thơ lý giải: Năm nay số thí sinh đăng ký dự thi vào trường thi 2 khối chỉ có 4,9%. Trong khi đó, năm 2009 tỷ lệ này là 8,2%. Điều này cho thấy lượng thí sinh ảo giảm nhiều so với mọi năm. “Và như thế, hội đồng tuyển sinh của trường cũng vui hơn khi bài toán bù lỗ không quá khó giải như mọi năm khi tỷ lệ sinh viên dự thi chỉ từ 60%-70%” – ông An lạc quan. Trong khi đó, Trường ĐH Nông Lâm TPHCM giảm gần 11.000 hồ sơ nhưng cũng không lo lắng vì năm nay trung bình một thí sinh thi vào trường chỉ nộp 1,9 hồ sơ, năm 2009 là 2,5 hồ sơ/thí sinh.

Như vậy, có thể nhận định năm 2010 tỷ lệ thí sinh “thật” so với số hồ sơ đăng ký tại các trường ĐH sẽ cao hơn so với mọi năm.

Đầu vào sẽ thấp?

Lượng hồ sơ đăng ký dự thi giảm kéo theo tỷ lệ chọi nhiều trường giảm. Tuy nhiên, tỷ lệ chọi thấp có thật sự dễ thở cho thí sinh hay có làm cho chất lượng đầu vào của nhiều trường sẽ sụt giảm theo?

Liên tục trong những ngày gần đây, nhiều trường ĐH thông báo tỷ lệ chọi cho từng ngành nhằm giúp thí sinh biết thông tin ngành mình đăng ký dự thi sẽ đối đầu với bao nhiêu đối thủ. Thực tế cho thấy, những mùa tuyển sinh gần đây, nhiều trường ở tốp đầu như Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TPHCM, ĐH Y Dược, Ngoại thương… tỷ lệ chọi chỉ dao động từ 1/2,2 đến 1/2,9 và ngày càng ít thí sinh đăng ký dự thi, nhưng thực tế điểm đầu vào vẫn khá cao, từ 21-25 điểm trở lên.

ng Nguyễn Thanh Nam, Trưởng phòng Đào tạo ĐH Bách khoa TPHCM chia sẻ: Trường không bận tâm lắm đến hồ sơ giảm mà chỉ quan tâm đến kết quả điểm thi của thí sinh. Không nên suy diễn hồ sơ giảm, tỷ lệ chọi giảm tất yếu kéo điểm đầu vào xuống thấp. Ông Nguyễn Kim Quang, Trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Khoa học Tự nhiên cho biết: Việc hồ sơ giảm năm nay ở một số trường là tình hình chung và phần nào đó cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào của một số ngành. Tuy nhiên, đối với những trường lớn thì họ giữ uy tín không lấy điểm thấp mà sẵn sàng lấy điểm cao nên thí sinh hãy thận trọng.

Căn cứ hồ sơ đăng ký dự thi vào các trường đại học thuộc ĐH Quốc gia TPHCM, ông Huỳnh Minh Trí lưu ý: Mùa tuyển sinh năm 2010 thí sinh tại TP đăng ký vào các trường thành viên của ĐH Quốc gia TPHCM không nhiều như mọi năm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đầu vào những trường này sẽ thấp. Thực tế nhiều thí sinh học các trường THPT có tiếng như Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa, THPT Năng Khiếu, Nguyễn Thị Minh Khai… mới dám đăng ký thi vào những trường này. Nhìn lại mùa tuyển sinh năm 2009, nhiều trường ĐH có lượng hồ sơ tăng bất ngờ kéo theo tỷ lệ chọi tăng như ĐH Công nghiệp TPHCM, ĐH Tôn Đức Thắng… nhưng điểm đầu vào cũng chỉ bằng điểm sàn hoặc nhích khoảng 1, 2 điểm.

Trong khi đó, nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Đắc Lắc, Lâm Đồng… chỉ có thí sinh giỏi hoặc học trường chuyên mới đăng ký thi những trường lớn, còn đa số các em không dám phiêu lưu nên nộp hồ sơ vào các trường đại học tại địa phương cho chắc ăn

Hồ sơ giảm, thí sinh “thật” tăng

Thêm tỷ lệ “chọi” trường Đại học Huế

Đáp Án đề thi đại học, tuyển sinh đại học cao đẳng 2010Ngày 14/05, Trường Đại học Huế công bố tỷ lệ “chọi” của trường, khoa thành viên trực thuộc.

ĐH Huế:

– Trường ĐH Sư phạm: SP Tin học: 1/3,3 (60 CT/366 HS); SP Vật lý: 1/5,46 (130 CT/710 HS); SP Kỹ thuật công nghiệp: 1/2,16 (55 CT/119 HS); SP Công nghệ thiết bị trường học: 1/2,85 (55 CT/157 HS).

SP Hóa học: 1/4,07 (110 CT/448 HS); SP Sinh học: 1/8,62 (110 CT/948 HS); SP Kỹ thuật nông lâm: 1/3,32 (50 CT/166 HS); Tâm lý giáo dục: 1/1,94 (50 CT/97 HS); Giáo dục chính trị: 1/2,91 (110 CT/320 HS); Giáo dục chính trị – Giáo dục quốc phòng: 1/1,53 (60 CT/92 HS); SP Lịch sử: 1/3,86 (100 CT/386 HS); SP Ngữ văn: 1/5,95 (150 CT/892 HS); SP Địa lý: 1/6,61 (100 CT/661 HS); Giáo dục tiểu học: 1/28,83 (100 CT/2.883 HS); Giáo dục mầm non: 1/5,63 (100 CT/563 HS).

– Trường ĐH Khoa học: Toán học: 1/1,80 (40 CT/72 HS); Tin học: 1/3,76 (200 CT/752 HS); Vật lý: 1/2,23 (60 CT/134 HS); Kiến trúc công trình: 1/3,06 (100 CT/306 HS); Điện tử – Viễn thông: 1/10,56 (70 CT/739 HS); Toán – Tin ứng dụng: 1/1,20 (40 CT/48 HS); Hóa học: 1/2,97 (60 CT/178 HS); Địa chất: 1/2,90 (50 CT/145 HS); Địa chất công trình và địa chất thủy văn: 1/2,10 (50 CT/105 HS); Sinh học: 1/8,83 (60 CT/530 HS); Địa lý: 1/4,64 (50 CT/232 HS); Khoa học môi trường: 1/18,48 (60 CT/1.109 HS); Công nghệ sinh học: 1/13,80 (60 CT/828 HS); Văn học: 1/2,89 (120 CT /347 HS); Lịch sử: 1/2,11 (120 CT/253 HS); Triết học: 1/1,12 (60CT/67 HS); Hán – Nôm: 1/0,70 (40 CT/28 HS); Báo chí: 1/5,72 (100 CT/572 HS); Công tác xã hội: 1/6,33 (70 CT/443 HS); Xã hội học: 1/1,97 (70 CT/138 HS); Ngôn ngữ: 1/0,28 (50 CT/14 HS); Đông phương học: 1/1,20 (70 CT/84 HS).

– Trường Đại học Y – Dược: Bác sĩ đa khoa: 1/10,52 (450 CT/4.508 HS); Bác sĩ Răng-Hàm-Mặt: 1/12,92 (50 CT/646 HS); Dược sĩ: 1/6,68 (100 CT 668 HS); Cử nhân Điều dưỡng: 1/32,78 (50 CT/1.639 HS); Cử nhân Kỹ thuật Y học: 1/18,54 (50 CT/972 HS); Cử nhân Y tế cộng đồng: 1/15,23 (60 CT /914 HS); Bác sĩ Y học dự phòng: 1/5,88 (100 CT/588 HS); Bác sĩ Y học cổ truyền: 1/12,50 (60 CT/750 HS).

– Trường Đại học Nông Lâm: Công nghiệp và công trình nông thôn: 1/2,18 (50 CT/109 HS); Cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm: 1/1,02 (50 CT/51 HS); Công nghệ thực phẩm: 1/10,48 (100 CT/1.048 HS); Khoa học cây trồng: 1/6,06 (100 CT/606 HS); Bảo vệ thực vật: 1/4,46 (50 CT/223 HS); Bảo quản chế biến nông sản: 1/11,88 (50 CT/594 HS); Khoa học nghề vườn: 1/1,48 (40 CT/59 HS); Lâm nghiệp: 1/13,84 (50 CT/692 HS); Chăn nuôi – Thú y: 1/7,90 (100 CT/790 HS); Thú y: 1/6,68 (50 CT/334 HS); Nuôi trồng thủy sản: 1/11,05 (150 CT/1.657 HS); Nông học: 1/2,10 (40 CT/84 HS); Khuyến nông và phát triển nông thôn: 1/9,12 (50 CT/456 HS); Quản lý tài nguyên rừng và môi trường: 1/25,64 (100 CT/2.564 HS); Chế biến lâm sản: 1/0,98 (40 CT/39 HS); Khoa học đất: 1/2,27 (30 CT/68 HS); Quản lý môi trường và nguồn lợi thủy sản: 1/14,50 (50 CT/725 HS); Quản lý đất đai: 1/5,85 (180 CT/1.053 HS); Phát triển nông thôn: 1/1,04 (50 CT/52 HS).

– Trường Đại học Kinh tế: Kinh tế: 1/6,86 (300 CT/2.059 HS); Quản trị kinh doanh: 1/13,05 (310 CT/4.044 HS); Kinh tế chính trị: 1/7,24 (50 CT/362 HS); Kế toán: 1/14,30 (240 CT/3.431 HS); Tài chính ngân hàng: 1/10,46 (80 CT/837 HS); Hệ thống thông tin kinh tế: 1/5,10 (140 CT/714 HS).

– Trường Đại học Nghệ thuật: Hội họa: 1/1,70 (40 CT/68 HS); Điêu khắc: 1/1,50 (10 CT/15 HS); SP Mỹ thuật: 1/3,73 (40 CT/149 HS); Mỹ thuật ứng dụng: 1/5,12 (50 CT/256 HS); Đồ họa: 1/1,57 (30 CT/47 HS).

– Trường ĐH Ngoại ngữ: SP Tiếng Anh: 1/3,47 (240 CT/833 HS); Việt Nam học: 1/2,50 (30 CT/75 HS); Quốc tế học: 1/1,37 (30 CT/41 HS); Tiếng Anh: 1/3,61 (240 CT/827 HS); Tiếng Nga: 1/0,55 (20 CT/11 HS); Tiếng Pháp: 1/1,43 (40 CT/57 HS); Tiếng Trung: 1/1,65 (80 CT/132 HS); Tiếng Nhật: 1/1,98 (160 CT/316 HS); Tiếng Hàn: 1/2,18 (40 CT/87 HS).

– Khoa Giáo dục thể chất: SP Thể chất – Giáo dục quốc phòng: 1/3,41 (100 CT/341 HS); SP Giáo dục thể chất: 1/4,22 (120 CT/506 HS).

– Khoa Du lịch: Du lịch học: 1/7,90 (120 CT/948 HS); Quản trị kinh doanh: 1/3,40 (200 CT/679 HS).

– Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị: Công nghệ kỹ thuật môi trường: 1/1,12 (60 CT/67 HS); Xây dựng dân dụng và công nghiệp: 1/1,30 (60 CT/78 HS); Kỹ thuật trắc địa – bản đồ: 1/0,17 (60 CT/10 HS).

Thêm tỷ lệ “chọi” trường Đại học Huế